Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phòng ngừa tranh chấp hợp đồng


Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phòng ngừa tranh chấp hợp đồng

Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, các giao dịch dân sự diễn ra ngày càng nhiều. Để đảm nảo quyền lợi của các bên trong trường hợp bên kia vi phạm nghĩa vụ, các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã được ra đời. Ở bài viết này, Luật Ánh Ngọc sẽ cùng các bạn tìm hiểu về các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ được quy định hiện nay.

1. Các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ là gì

Hiện nay, chưa có quy định pháp luật đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, ta có thê hiểu các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ là là những cách thức, giải pháp để hỗ trợ, khẳng định và bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng một cách chắc chắn. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đi liền không tách rời nghĩa vụ chính trong hợp đồng, giao dịch chính. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết thì bên có quyền có thể áp dụng  các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc có thể đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để buộc bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết để đảm bảo được quyền lợi cho mình.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tuy chỉ là hợp đồng phụ nhưng trong nhiều trường hợp sẽ đóng vai trò quan trọng hơn cả hợp đồng chính. Ví dụ nếu hợp đồng cho vay bị vô hiệu thì hậu quả pháp lý xấu nhất bên cho vay phải gành chịu đó là không được quyền thu tiền lãi (vẫn có quyền thu hồi đủ tiền gốc), nhưng nếu như hợp đồng bảo đảm vay tiền bị vô hiệu thì bên cho vay sẽ có nguy cơ không thu hồi được cả gốc lẫn lãi.

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được quy định chủ yếu trong Bộ Luật Dân sự, đồng thời cũng được để cập ở nhiều các Luật chuyên ngành khác nhau như Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Lâm nghiệp,… Ngoài ra còn được quy định ở những văn bản dưới luật.

 

biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ

2. Các biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ được quy định hiện nay

2.1 Cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 309 đến Điều 316 của Bộ Luật dân sự. Đây là việc một bên giao tài sản mà mình có quyền sở hữu cho một bên khác để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Đến hạn, nếu bên vay không trả nợ, tổ chức tín dụng sẽ xử lý tài sản cầm cố này bằng cách bán tài sản và dùng số tiền đó để trừ nợ. Hoặc tổ chức tín dụng có thể dùng chính tài sản đó để thay thể cho việc phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Tài sản dùng trong biện pháp này thường là tài sản có thể di rời như xe máy, điện thoại, sản phẩm có thể được thu hoạch từ chăn nuôi, trồng trọt, tiền tiết kiêm gửi ngân hàng,…

Ví dụ: Anh A có nhu cầu vay vốn Ngân hàng B để khởi nghiệp kinh doanh đồ gia dụng. Trước đó, anh A đã có một khoản tiền tiết kiệm tại Ngân hàng này là 100 triệu đồng nhưng chưa đến hạn. Anh  A có thể dùng số dư tiền gửi đó làm tài sản bảo đảm để vay vốn ngân hàng. Ngân hàng yêu cầu anh A giao bảo gốc sổ tiết kiệm để Ngân hàng giữ cho đến khi anh A trả đầy đủ nợ cho ngân hàng. Trong trường hợp này, biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ được các bên sử dụng đó là biện pháp cầm cố tài sản (cầm cố sơ dư tiền gửi).

Để biện pháp cầm cố tài sản được xác lập, giữa bên có tài sản (bên cầm cố) và tổ chức tín dụn phải có hợp đồng cầm cố thường lập thành văn bản. Có thể được lập thành hợp đồng phụ riêng hoặc là một điều khoản cụ thể trong hợp đồng chính. Trong đó sẽ ghi rõ bên cầm cố, bên nhận cầm cố, tài sản được cầm cố, khoản nợ được bảo đảm thành biện pháp cầm cố. Hợp đồng cầm cố tài sản thưởng được soạn thảo sẵn bằng mẫu của tổ chức tín dụng.

Xem thêm bài viết tại: Chiếm hữu ngay tình là gì và lợi ích thu được từ chiếm hữu ngay tình

2.2 Thế chấp tài sản

Thế chấp tài sản là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Theo Điều 317 Bộ Luật Dân sự năm 2015 có quy định về thế chấp tài sản là một việc mà một bên (gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo nghĩa vụ được thực hiện đây đủ và không giao tài sản cho bên kia (gọi là bên nhận thế chấp). Bên thế chấp không phải giao tài sản cho bên nhận thế chấp. Đến hạn nếu bên vây không trả nợ thì tổ chức tín dụng có thể xử lý tài sản thế chấp bằng cách bán tài sản và dùng số tiền đó để trừ nợ, hoặc tổ chức tín dụng có thể chấp nhận chính tài sản đó để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Tài sản dùng trong biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ này có thể là bất động sản (nhà ở, quyền sử dụng đất, công trình xây dựng,…) hoặc động sản (máy móc, thiết bị sản xuất, hàng hóa, nông sản,…). Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên cũng có thể thỏa thuận giao tài sản cho bên thứ ba giữ tài sản thể chấp.

Biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản được áp dụng phổ biến hơn so với cầm cố tài sản vì bên vay vẫn có thể sử dụng tài sản thế chấp trong cuộc sống hàng ngày, còn bên cho vay không phải tốn công sức và chi phí bảo quản tài sản.

Để xác lập được biện pháp này, giữa bên thế chấp (bên có tài sản) và tổ chức tín dụng sẽ có hợp đồng thế chấp (thường sẽ được lập thành văn bản), có thể lập thành hợp đồng riêng hoặc được quy định ở một điều khoản cụ thể trong hợp đồng vay. Trong đó, ghi rõ bên thế chấp, bên nhận thế chấp, mô tả rõ đặc điểm tài sản thế chấp, khoản nợ được bảo đảm bằng biện pháp thế chấp. Hợp đồng thế chấp tài sản sẽ được soạn theo mẫu của tổ chức tín dụng.

Khi thế chấp tài sản, bên thế chấp không phải giao tài sản cho bên cho vay, nhưng phải giao lại giây tờ liên quan đến tài sản đó để bên cho vay nắm giữ. Bên thế chấp vẫn có quyền tiếp tục hưởng hoa lợi, lợi tức, khai thác công dụng từ tài sản thế chấp; đầu tư để làm tăng giá trị cho tài sản thế chấp; được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp. Tuy nhiên, bên thế chấp sẽ không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp đó (trừ trường hợp đã được bên cho vay đồng ý hoặc trong trường hợp tài sản thế chấp là hàng luân chuyển trong quá trình sản xuất như nông sản hay hàng hóa họ sản xuất ra).

Ví dụ: Anh A thỏa thuận với Ngân hàng B là dùng quyền sở hữu đất của công ty mình đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng để thế chấp đảm bảo cho khoản vạy với Ngân hàng B. Trong thời gian thế chấp, anh A vẫn được tiếp tục sử dụng diện tích đất trên. Nếu anh A không trả được nợ hoặc trả không đầu đủ thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản mà anh A đã thế chấp.

2.3 Bảo lãnh

Bảo lãnh là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Đây là việc người thứ ba (được gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (đươic là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện thay nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ (được gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh thực hiện  không đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ (theo Điều 335, Điều 336, Điều 339, Điều 342 Bộ Luật dân sự năm 2015).

Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần nghĩa vụ hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh. Nghĩa vụ bảo lãnh bảo gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trong trường hợp bên vay không trả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc phát sinh bảo lãnh chỉ trong trường hợp bên vay không còn khả năng trả nợ.

Bên bảo đảm trong bảo lãnh luôn được mặc định là người thứ ba. Người thứ ba có thể dùng tài sản của mình hoặc cam kết thực hiện thay  nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ trong trường hợp là quan hệ nghĩa vụ chính nếu bên có nghĩa vụ có hành vi vi phạm hoặc không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền.

Ví dụ: Ông A muốn vay vốn ngân hàng để khởi nghiệp. Bà B là chị ruột ông A cam kết với ngân hàng là sẽ bảo lãnh cho khoản vay này của ông A, nếu ông A không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho ngân hàng thì Bà B sẽ thực hiện thay nghĩa vụ của ông A.

2.4 Tín chấp

Tín chấp là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phổ biến hiện nay. Theo quy định tại Điều 344 Bộ Luật dân sự năm 2015 thì: Tổ chức chính trị xã hội tại cơ sở có thể đảm bảo bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng theo quy định pháp luật.

Mặc dù cùng mang tính chất xuất hiện bên thứ ba bảo đảm cho bên vay sẽ thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận nhưng tín chấp và bảo lãnh có một số điểm khác nhau như sau:

  • Người bảo đảm: Tổ chức chính trị - xã hội cơ sở
  • Người được bảo đảm: Là người nghèo thuộc thành viên của tổ chức chính trị - xã hội
  • Đối tượng để bảo đảm: Là uy tín của tổ chức
  • Mục đích vay: Thực hiện sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ đã được xác định cụ thể trong hợp đồng vay vốn và người vay phải sử dụng vốn đúng với mục đích vay đã thỏa thuận trong hợp đồng.
  • Bên cho vay có quyền kiểm soát hoạt động sử dụng vốn vay đó và có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn và thu hồi vốn nếu người vay sử dụng vốn không đúng với mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết.

Tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở (bên bảo đảm bằng tín chấp) chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng cho vay để hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người vay, giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích đã giao kết và có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đây đủ, đúng hạn; xác nhận về hoàn cảnh, ddiefu kiện của người vay vốn với bên tổ chức tín dụng cho vay khi có yêu cầu.

Tổ chức tín dụng cho vay có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng tại cơ sở phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn cay; đôn đốc trả nợ; phối hợp để đảm bảo trong việc cho vay và thu hồi nợ.

Ví dụ: Ông A muôn vay vốn ngân hàng để mở cửa hàng tạp hóa nhưng lại không có tài sản để bảo đảm cho khoản vay. Hội nông dân xã nơi ông A đang cư trú hỗ trợ bằng cách bảo đản bàng tìn chấp cho ông A vay vón tại Ngân hàng B.

 

Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng -Tín chấp
Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng -Tín chấp

2.5 Bảo lưu quyền sở hữu

Theo Điều 331 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định về bảo lưu quyền sở hữu như sau:

Trong trường hợp mua bán tài sản thì các bên có thể thóa thuận về việc mua trả chậm, trả dần. Trong trường hợp này, người mua chỉ có quyền sở hữu khi đã trả hiết tiền mua. Để bảo đảm quyền đòi tiền trả chậm, bên nào có thể thỏa thuận với bên mua xác lập biện pháp này và đăng ký với tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trong bảo lưu quyền sở hữu thì bên bán được quyền kiểm soát định đoạt tài sản của bên mua cho đến khi mà bên mua thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho bên mua. Ngược lại, trong trường hợp bên mua không thuwjchiejen nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn thì bên bán có quyền lấy lại tài sản đó và trả lại tiền cho bên mua sau khi đã trừ khấu hao tổn hại trong thời gian bên mua sử dụng tài sản.

Ví dụ: Anh A mua xe máy theo hình thức trả góp tại cửa hàng B. Để đảm bảo rằng anh A sẽ thanh toán đầy đủ tiền, anh A và cửa hàng B đã thỏa thuận xác lập biện pháp bảo lưu quyền sở hữu ghi nhận trong hợp đồng mua bán xe máy và thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm. Nếu anh A không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ thì cửa hàng B có quyền truy đòi lại xe máy đã bán cho A.

2.6 Đặt cọc

Theo Khoản 1 Điều 328 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: Đặt cọc là việc mà một bên sẽ giao cho bên kia mọt khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc các vật giá trị khác (được gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời gian để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Đây là sự thỏa thuận của các bên, theo đó một bên giao cho bên kia một tài sản trong thời hạn nhất đinh để xác định các bên thống nhất sẽ giao kết một hợp đồng hoặc đã giao kết một hợp đồng, buộc các bên phải thực hiện đúng thỏa thuận đã cam kết. Trong trường hợp  nghĩa vụ đã được thực hiện đúng và đầy đủ theo hợp đồng đã giao kết thì tài sản đặt cọc sẽ được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được khấu trừ khi thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc thực hiện nghĩa vụ thì tài sàn cọc thuộc về bên nhận đặt cọc và ngược lại nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đã đặt cọc và một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Đối tượng của đặt cọc là những vật có giá trị cao hoặc các vật thông thường khác mà một bên giao cho bên kia. Nếu đối tượng đặt cọc là tiền thì vừa mang chức năng bảo đảm lại vừa mang chức năng thanh toán. Vì vậy, việc đặt cọc phải được lập thành văn bản phải xác định được rõ số tiền đạt cọc, số tài sản đặt cọc.

Ví dụ: Anh A đặt cọc cho anh B 50 triệu đồng để đảm bảo anh B sẽ bán xe ô tô cho mình và mình sẽ mua chiếc xe ô tô đó. Nếu A không mua xe ô tô của A thì sẽ mất 20 triệu. Ngược lại nếu B không bán xe ô tô đó cho A thì B phải trả cho A 60 triệu đồng.

Có thể bạn quan tâm: Hợp đồng mua bán tài sản: Lưu ý trước khi ký kết để tránh tranh chấp?

2.7 Ký cược

Theo Điều 329 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định đây là việc bên thuê tài sản là động sản sẽ giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (được gọi là tài sản ký cược) trong một thời gian hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.

Ngoài ra, tài sản ký cược có thể được xử lý thanh toán cho tiền thuê bên tài sản hoặc tiền bồi thường nếu xảy ra thiệt hại như tài sản  bi hư hỏng, mất mát.

Ví dụ: Khi mua bình ga, chủ cửa hàng thường yêu cầu đặt cược lại tiền vỏ bình ga đó. Số tiền này được giữ lại để đảm bảo người mua sẽ trả lại vỏ bình ga, khi trả lại bình ga thì người mua sẽ được hoàn trả lại số tiền đó và ngược lại.

2.8 Ký quỹ

Ký quỹ cũng là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đuộc quy định lại Điều 360 Bộ Luật dân sự năm 2015 là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hay kim khí quý hoặc giấy tờ có giá trị khác vào tài  khoản phong tỏa tại một ngân hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Ví dụ: Trong trường hợp đi lao động đi xuất khẩu nước ngoài, doanh nghiêp thực hiện dịch vụ này phải ký quỹ tại ngân hàng để giải quyết trường hợp phát sinh khi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ.

2.9 Cầm giữ tài sản

Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (được gọi là bên cầm giữ) đang chiếm giữ hợp phát tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được cầm giữ hợp pháp tài sản là khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận (Theo Điều 346 Bộ Luật dân sự năm 2015).

Ví dụ: A bị hỏng xe máy và mang ra quán của B để sửa. Tuy nhiên khi sửa xe xong, anh A không có tiền thanh toán cho B, B đã giữ lại xe của A đến khi A thanh toán xong số tiền sửa xe.

 

Điều 292 Bộ Luật Dân sự năm 2015
Điều 292 Bộ Luật Dân sự năm 2015

3. Các vấn đề liên quan đến các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Từ những phân tích trên ta thấy Bộ Luật dân sự hiện nay đã quy định 9 biện pháp bảo đản thực hiện hợp đồng. Theo các quy định hiện hành thì các bên trong hợp đồng có quyền tự do, tự chủ cam kết và tự do thỏa thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng người thứ ba thì bên nhận bảo đảm sẽ được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm đó theo quy định. 

Nếu các bạn cần được tư vấn cụ thể và chi tiết hơn về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: Giải pháp phòng ngừa tranh chấp hợp đồng hãy liên hệ ngay với Luật Ánh Ngọc, các luật sư của Ánh Ngọc sẽ giải đáp cặn kẽ hơn những vấn đề chưa được đề cập trong bài viết này.

>>> Xem thêm: Cầm cố và thế chấp: Khác biệt và ưu điểm của hai hình thức bảo đảm


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác