Hiểu đúng và áp dụng đúng pháp luật về bảo lãnh thực hiện hợp đồng


Hiểu đúng và áp dụng đúng pháp luật về bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Để đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng giữa các bên, đã có sự phát triển của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó một trong những biện pháp quan trọng là bảo lãnh. Bản chất và cách áp dụng của bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng sẽ được trình bày dưới đây.

1. Các biện pháp bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản liên quan chưa cung cấp định nghĩa rõ ràng về "Biện pháp bảo đảm". Tuy nhiên, từ ngữ và quy định pháp luật cho thấy Biện pháp bảo đảm là các hình thức và giải pháp được áp dụng để hỗ trợ, khẳng định và đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc thỏa thuận một cách chắc chắn. Biện pháp bảo đảm không được tách rời khỏi nghĩa vụ chính trong hợp đồng hoặc giao dịch.

Theo Điều 292 của Bộ luật Dân sự năm 2015, có một số biện pháp được áp dụng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, bao gồm:

Cầm cố tài sản; Thế chấp tài sản; Đặt cọc; Ký cược; Ký quỹ; Bảo lưu quyền sở hữu; Bảo lãnh; Tín chấp; Cầm giữ tài sản.

 

Các biện pháp bảo đảm
Các biện pháp bảo đảm

2. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong thực hiện biện pháp bảo đảm

Điều 4 của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định việc áp dụng pháp luật và thỏa thuận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như sau: Trong trường hợp có các quy định đặc thù về tài sản bảo đảm trong lĩnh vực pháp luật liên quan đến đất đai, nhà ở, đầu tư, doanh nghiệp, chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, tài nguyên thiên nhiên, thủy sản, lâm nghiệp, hàng không, hàng hải, sở hữu trí tuệ hoặc khoa học và công nghệ hoặc các lĩnh vực khác; các biện pháp bảo đảm được xác lập và thực hiện; hoặc việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ áp dụng theo quyền hạn được quyết định trong các quy chế...

Khi bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm hoặc người có nghĩa vụ được bảo đảm bị tuyên bố phá sản, các nghĩa vụ liên quan đến tài sản, xử lý khoản nợ có bảo đảm và các biện pháp để duy trì tài sản sẽ được thực hiện theo quy định của luật phá sản.

Nếu các bên trong một quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã đồng ý với một thỏa thuận khác, không vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, không vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và không vi phạm giới hạn về việc thực hiện quyền dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự và các luật liên quan khác, thì các bên có thể tuân theo thỏa thuận đó.

Khi chủ sở hữu tài sản và bên nhận bảo đảm đồng ý sử dụng tài sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của một bên khác, quy định về cầm cố tài sản và thế chấp tài sản được áp dụng.

Nếu thỏa thuận có nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nhưng các bên không xác định rõ hoặc xác định không chính xác tên biện pháp bảo đảm phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, thì áp dụng quy định tương ứng về biện pháp bảo đảm cho nội dung thỏa thuận này.

Các đối tượng tham gia vào biện pháp bảo đảm bao gồm tổ chức và cá nhân tham gia vào hợp đồng hoặc thỏa thuận có sử dụng biện pháp bảo đảm. Theo quy định tại Điều 35 của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, các cá nhân và tổ chức kinh tế có thể nhận thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình hoặc cá nhân sử dụng đất. Tuy nhiên, việc nhận thế chấp cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình hoặc cá nhân sử dụng đất cần tuân thủ các điều kiện sau đây:

Bên nhận thế chấp có thể là tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đất đai, hoặc cá nhân là công dân Việt Nam có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Việc nhận thế chấp nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ mà không vi phạm các quy định cấm trong Bộ luật Dân sự, các luật khác liên quan và không vi phạm đạo đức xã hội trong các hợp đồng liên quan đến dự án đầu tư, xây dựng, thuê, thuê khoán, dịch vụ và các giao dịch khác.

Các khoản nợ được đảm bảo bao gồm tiền lãi phát sinh do chậm thanh toán, lãi suất trên số nợ gốc trong thời hạn, lãi suất trên số nợ gốc quá hạn, lãi suất trên số nợ lãi chưa trả hoặc lãi suất khác, nhưng không được vượt quá mức lãi suất đã thỏa thuận, theo quy định tại Khoản 2 điều 357, Khoản 5 điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp không có quy định khác của pháp luật, chỉ có thể xử lý một lần cho mỗi vi phạm không thanh toán đúng hạn.

Các điều kiện hiệu lực khác của các giao dịch dân sự được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự và các luật liên quan.

Xem thêm bài viết: Cầm cố và thế chấp: Khác biệt và ưu điểm của hai hình thức bảo đảm

3. Có bắt buộc phải thực hiện bảo đảm thực hiện hợp đồng không?

Theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật đấu thầu năm 2023 cùng với các văn bản pháp luật liên quan, trong trường hợp hợp đồng dịch vụ thông thường không được tiến hành qua quá trình đấu thầu và không có kế hoạch chọn nhà thầu đã được thiết lập, không yêu cầu áp dụng biện pháp để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng. Hai bên có quyền tự do thỏa thuận các biện pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện hợp đồng, tùy thuộc vào ý chí của hai bên.

Do đó, không phải lúc nào cũng cần thiết thực hiện bảo đảm thực hiện hợp đồng, chỉ trong một số trường hợp mới yêu cầu việc bảo đảm thực hiện hợp đồng trong quá trình đấu thầu theo quy định của Luật Đấu Thầu năm 2013.

Xem thêm bài viết: Lãi suất chậm trả: Hướng dẫn chi tiết để tránh công nợ đèn đỏ

4. Khái niệm bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Bảo lãnh là một biện pháp được sử dụng để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, như quy định tại khoản 7 Điều 292 của Bộ luật Dân sự 2015. Theo khoản 1 Điều 335 của Bộ luật Dân sự 2015, bảo lãnh được xác định là cam kết từ một người thứ ba (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh), rằng người thứ ba này sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) trong trường hợp khiến cho việc thực hiện nghĩa vụ không được tiến hành hoặc không được tiến hành chính xác vào thời điểm đã quy định.

 

Khái niệm bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Khái niệm bảo lãnh thực hiện hợp đồng

5. Quy định về bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Trong Bộ luật Dân sự, không có quy định riêng về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được áp dụng để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng xây dựng.

Theo quy định pháp luật, việc đặt cọc được coi là một biện pháp đảm bảo trong lĩnh vực dân sự để thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng xây dựng. Theo đó, bên nhà thầu giao cho bên chủ đầu tư một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị khác, chẳng hạn như kim cương, vàng bạc, tiền đô... để thanh toán và đảm bảo việc thi hành nghĩa vụ. Các bên thường lập văn bản để ghi nhận trách nhiệm của mỗi bên trong việc này.

Hình thức thứ hai để đảm bảo thực hiện hợp đồng là ký quỹ. Đây cũng là một trong những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trong lĩnh vực dân sự và hợp đồng xây dựng, trong đó bên có nghĩa vụ, thường là nhà thầu, đặt tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ có giá trị tương đương vào tài khoản ngân hàng được phong tỏa để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ.

Hình thức bảo đảm thực hiện hợp đồng thứ ba mà nhà thầu thường sử dụng là việc nộp thư bảo lãnh từ các tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng nước ngoài được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật Đấu thầu, biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng áp dụng cho các nhà thầu được lựa chọn, trừ nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn và nhà thầu được lựa chọn theo hình thức tự thực hiện, cùng với sự tham gia của cộng đồng.

Xem thêm bài viết: Xử lý khi có tranh chấp về đề nghị giao kết hợp đồng

6. Thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Theo quy định tại Điều 44 của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, bên bảo lãnh sẽ có nghĩa vụ bảo lãnh trong các trường hợp sau đây:

- Bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ theo đúng thời hạn;

- Bên được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn như đã thỏa thuận;

- Bên được bảo lãnh chỉ thực hiện một phần nhỏ hoặc không đầy đủ nghĩa vụ;

- Bên được bảo lãnh không tuân thủ nội dung cụ thể của nghĩa vụ;

- Bên được bảo lãnh không có khả năng để tiến hành việc thực hiện nghĩa vụ;

Trong trường hợp xảy ra căn cứ để phát sinh yêu cầu bồi hoàn từ phía người nhận, người nhận sẽ thông báo cho người bảo lãnh biết để tiến hành các biện pháp cần thiết.

Lưu ý: Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên nhận bảo lãnh hoàn trả cho mình tài sản đã nhận hoặc giá trị tương ứng phần nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện nếu bên được bảo lãnh vẫn thực hiện nghĩa vụ.

7. Phạm vi bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Theo quy định tại Điều 336 của Bộ luật Dân sự năm 2015, phạm vi bảo lãnh trong hợp đồng được xác định như sau:

Bảo lãnh áp dụng cho một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, theo cam kết từ bên bảo lãnh.

Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm tiền lãi trên số nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và lãi suất trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Các bên có thể thỏa thuận sử dụng tài sản là biện pháp bảo đảm để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Trong trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, giới hạn của phạm vi bảo lãnh là khi người bảo lãnh qua đời hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại. Sau thời điểm này, các nghĩa vụ phát sinh sẽ không còn được bảo lãnh.

 

Phạm vi bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Phạm vi bảo lãnh thực hiện hợp đồng

8. Mức phí bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Bên bảo lãnh có thể nhận một số tiền được coi là thù lao nếu có thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh, dựa trên quy định tại Điều 337 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo Thông tư 07/2015/TT-NHNN, mức phí bảo lãnh của ngân hàng được quy định như sau:

Mức phí bảo lãnh được thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và bên được bảo lãnh.

Trong trường hợp thực hiện đồng bảo lãnh, các bên tham gia đồng bảo lãnh thỏa thuận mức phí bảo lãnh cho mỗi bên dựa trên mức phí thu được của bên được bảo lãnh và tỷ lệ tham gia đồng bảo lãnh.

Trong trường hợp bảo lãnh cho một nghĩa vụ liên đới, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thỏa thuận với từng khách hàng về mức phí phải trả dựa trên nghĩa vụ liên đới tương ứng của mỗi khách hàng, trừ khi có thoả thuận khác.

Từ đó, có thể nhận thấy rằng mức phí bảo lãnh trong một hợp đồng thông thường do các bên tự do thỏa thuận.

9. Gia hạn bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Theo quy định tại Luật Đấu thầu năm 2023, việc bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định như sau:

Khi ký kết hợp đồng, nhà đầu tư được lựa chọn phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước ngày hợp đồng có hiệu lực, theo sự thỏa thuận giữa các bên.

Giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định trong hồ sơ mời thầu khi tổ chức đấu thầu, dựa trên tính chất và quy mô của dự án, với mức xác định từ 1% đến 3% tổng mức đầu tư của dự án trong quá trình đấu thầu.

Thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng được ký chính thức đến ngày công trình hoàn thành và nghiệm thu, hoặc ngày các điều kiện bảo đảm cung cấp dịch vụ được hoàn thành theo quy định của hợp đồng. Trong trường hợp cần gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư phải yêu cầu gia hạn thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng để đảm bảo giải quyết các vấn đề theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Sau khi ký kết hợp đồng và thực hiện bảo đảm thực hiện hợp đồng, nhà đầu tư không được hoàn trả bảo đảm thực hiện hợp đồng trong các trường hợp sau:

  • Từ chối thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực với lý do chính đáng;
  • Vi phạm thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng;
  • Thực hiện hợp đồng chậm tiến độ do lỗi của mình, mặc dù bên yêu cầu thực hiện và bên có nghĩa vụ nhưng từ chối gia hạn thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng.

Do đó, không có quy định cụ thể về việc gia hạn bảo lãnh, mà điều này phụ thuộc vào quá trình thực hiện bảo đảm thực hiện hợp đồng giữa các bên.

10. Một số trường hợp chấm dứt bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Các trường hợp chấm dứt bảo lãnh thực hiện hợp đồng được quy định tại Điều 343 của Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

Khi nghĩa vụ được bảo lãnh chấm dứt;

Việc bảo lãnh trong hợp đồng bị hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;

Bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ bảo lãnh;

Các bên có thoả thuận về việc chấm dứt bảo lãnh.

11. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các tranh chấp liên quan đến bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh là một loại tranh chấp phổ biến hiện nay không chỉ trong quan hệ kinh doanh và thương mại mà còn trong các quan hệ dân sự.

Các tranh chấp liên quan đến hợp đồng bảo lãnh chủ yếu xoay quanh vấn đề hiệu lực của hợp đồng. Ngoài ra, cũng có thể xảy ra tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ của các bên như vi phạm nghĩa vụ bảo lãnh từ phía bên bảo lãnh hoặc vi phạm nghĩa vụ trả lại của bên được bảo lãnh đối với bên bảo lãnh sau khi bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh. Cuối cùng, tranh chấp cũng có thể liên quan đến thời điểm và căn cứ để chấm dứt hợp đồng bảo lãnh.

Cụ thể, có ba loại tranh chấp phổ biến liên quan đến hợp đồng bảo lãnh:

Tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh: Đây là tranh chấp xoay quanh giá trị pháp lý của hợp đồng bảo lãnh và việc giải quyết các hậu quả khi hợp đồng này trở nên vô hiệu. Các tranh chấp trong nhóm này thường liên quan đến sự không rõ ràng về các bên tham gia vào việc ký kết hợp đồng, các yếu tố cần thiết để tạo thành một hợp đồng, hoặc nội dung của hợp đồng.

Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ: Đây là tranh chấp xảy ra khi một trong hai bên - bên được bảo lãnh hoặc bên bảo lãnh - không tuân thủ nghĩa vụ đã được giao cho mình theo điều khoản của hợp đồng.

Tranh chấp về chấm dứt hợp đồng bảo lãnh thường xoay quanh các vấn đề cơ sở pháp lý liên quan, như:

Giá trị pháp lý của biên bản hoà giải chấm dứt bảo lãnh: Trong một số trường hợp, việc chấm dứt hợp đồng bảo lãnh có thể được thực hiện thông qua việc hòa giải giữa các bên. Tuy nhiên, tranh chấp có thể phát sinh khi một bên không công nhận tính hiệu lực của biên bản hoà giải này và yêu cầu tiếp tục tuân thủ nghĩa vụ.

Thời điểm nghĩa vụ được thực hiện: Trong một số trường hợp, việc chấm dứt hợp đồng bảo lãnh chỉ xảy ra khi nghĩa vụ đã được thực hiện theo thỏa thuận ban đầu. Tuy nhiên, tranh chấp có thể xảy ra khi các bên không đồng ý về việc liệu nghĩa vụ đã được hoàn thành hay không.

Các tranh chấp này có thể yêu cầu sự can thiệp của tòa án để giải quyết và xác định rõ ràng các quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.

12. Một số biện pháp nhằm khắc phục những vướng mắc của quy định pháp luật về bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Theo quy chiếu chung và quan điểm pháp luật so sánh, các quy định về hợp đồng bảo lãnh trong nhiều quốc gia trên thế giới nhằm đảm bảo cân bằng quyền lợi của cả hai bên, tức là bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh, theo bản chất pháp lý của hợp đồng đơn vụ (hợp đồng bảo lãnh là một dạng hợp đồng đơn vụ). Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, có vẻ như các quy định đang thiên về lợi ích của bên được bảo lãnh. Đó là lý do tại sao bên bảo lãnh cần được pháp luật công nhận thêm hai quyền kháng biện cơ bản để tránh những vấn đề phát sinh như hiện tại trong quá trình thực hiện hợp đồng:

Quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh chưa yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ.

Quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên bảo lãnh có chứng minh được rằng bên được bảo lãnh vẫn còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp này, bên được bảo lãnh phải sử dụng những tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ của mình trước.

 




Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác