Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là như thế nào?


Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là như thế nào?
Tài sản của vợ chồng đóng vai trò quan trọng trong đời sống gia đình, là cơ sở kinh tế bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội cơ bản, nên có rất nhiều cặp vợ chồng khi muốn tiến đến hôn nhân và điều đầu tiên họ quan tâm đến là tài sản chung, riêng của mình.

1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng

 

Thế nào là chế độ tài sản của vợ chồng
Thế nào là chế độ tài sản của vợ chồng

Theo khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, có hai chế độ tái sản của vợ chồng và vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là đạo luật đầu tiên của Nhà nước ta quy định vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Mặc dù chưa có khái niệm cụ thể nào về chế độ tài sản của vợ chồng nhưng chúng ta có thể hiểu chế độ tài sản của vợ chồng là toàn bộ những quy định về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng, quyền, và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và việc phân chia tài sản.

Việc để hai bên vợ chồng được thỏa thuận và lựa chọn chế độ tài sản một mặt tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng nhưng mặt khác phải đảm bảo bảo vệ lợi ích chung của gia đình và của người thứ ba. Do vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định các nguyên tắc chung áp dụng cho chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, của các thành viên gia đình và của người thứ ba ngay tình.

2. Quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

 

Quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận
Quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

2.1. Thời gian, hình thức tiến hành thỏa thuận chế độ tài sản

Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình:

-  Thời điểm hai vợ chồng được chọn và thực hiện thỏa thuận chế độ tài sản của mình là trước khi kết hôn tức là trước thời điểm hai bên tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

-  Hình thức bằng văn bản và phải có công chứng hoặc chứng thực.

2.2. Nội dung cơ bản của thỏa thuận chế độ tài sản 

Để việc thỏa thuận được công nhận thì trong văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải có các nội dung cơ bản sau:

- Tài sản nào được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng: vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:

  • Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;
  • Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;
  • Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó
  • Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.

- Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan;

- Tài sản nào để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

- Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

- Nội dung khác có liên quan.

-Trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì khi xác lập, thực hiện giao dịch vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan; nếu vợ, chồng vi phạm nghĩa vụ này thì người thứ ba được coi là ngay tình và được bảo vệ quyền lợi theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Lưu ý:

  • Nội dung của thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải phù hợp với quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề nào đó chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng trong bản thỏa thuận  thì áp dụng quy định trong Luật hôn nhân và gia đình gồm: đảm bảo tuân thủ nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng (theo Điều 29), đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (theo Điều 30), giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng (theo Điều 31), giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (theo Điều 32) và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định. (Điều 48 Luật hôn nhân và gia đình)

2.3. Về sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản 

Theo quy định của Điều 49 Luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản. Việc này sẽ được thực hiện khi mà chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng và thực hiện trong thời kỳ hôn nhân.

Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận được thực hiện bằng văn bản và phải được công chứng, chứng thực.

Khi sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản sẽ làm phát sinh một số hậu quả như sau:

- Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực. Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp cho người thứ ba biết về những thông tin liên quan.

- Quyền, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm việc sửa đổi, bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Xem thêm bài viết: Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng đầy đủ nhất

2.4. Căn cứ xác lập thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng

Không phải mọi thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản theo thỏa thuận đều được xác lập khi mà vợ chồng thực hiện bằng văn bản và đi công chứng, chứng thực. Để có thể được xác lập và áp dụng trong thời kỳ hôn nhân mà phát sinh các vấn đề, thì thỏa thuận này phải đảm bảo được các điều kiện sau:

Thứ nhất, về thời gian thỏa thuận: thỏa thuận lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận phải được lập trước khi kết hôn. Do đó, đối với những cặp vợ chồng đã thực hiện việc kết hôn mà muốn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì không thể thực hiện được nữa.

Thứ hai, về hình thức thỏa thuận: hình thức của thỏa thuận phải bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Vì vậy, thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trước khi kết hôn bắt buộc phải lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực thì mới có giá trị pháp lý. Nếu như việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng được xác lập bằng các hình thức khác mà không phải hình thức được quy định là văn bản thì đều không có giá trị pháp lý bởi lẽ theo khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.

Thứ ba, về điều kiện kết hôn: hai bên xác lập văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản theo thỏa thuận phải tiến hành đăng ký kết hôn. Do đó, những trường hợp kết hôn trái pháp luật, những trường hợp đăng ký kết hôn tại cơ quan không đúng thẩm quyền, về nguyên tắc sẽ không thể xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận, dù đã xác lập văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước đó.

Thứ tư, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng không bị vô hiệu toàn bộ. Nếu thỏa thuận bị vô hiệu toàn bộ thì sẽ không được xác lập.

3. Vô hiệu, chấm dứt thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng

 

Vô hiệu hóa  thỏa thuận tài sản của vợ chồng
Vô hiệu hóa thỏa thuận tài sản của vợ chồng

3.1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan: theo đó thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực khi đảm bảo đầy đủ các điều kiện về hình thức là bằng văn bản, về có năng lực hành vi dân sự; hoàn toàn tự nguyện trong việc xác lập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng một cách tự do, không bị lừa dối hay cưỡng ép.

Vi phạm một trong các quy định tại các Điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình gồm: vi phạm nguyên tắc chung trong chế độ tài sản của vợ chồng, quyền được đảm bảo về chỗ ở của vợ chồng, quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu nếu không đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng liên quan đến việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung hoặc vi phạm nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho gia đình hoặc vi phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình.

 - Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình: thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu nếu thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha mẹ con và các thành viên khác trong gia đình được pháp luật quy định.

Lưu ý: Thỏa thuận có thể bị vô hiệu một phần hoặc toàn bộ. Nếu chỉ có một nội dung hoặc vài nội dung vi phạm các điều trên mà các nội dung khác vẫn đúng và có thể thực hiện thì chỉ vô hiệu phần vi phạm, phần không vi phạm vận có hiệu lực. Khi này, thỏa thuận vẫn có thể được xác lập nếu thỏa mãn tất cả các điều kiện còn lại của việc xác lập thỏa thuận.

Như vậy, có thể thấy rằng, để một thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng được thực hiện đúng theo như quy định của pháp luật hiện hành thì cần phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan. Không những thế mà nội dung của thỏa thuận nếu có các vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình thì sẽ là thỏa thuận bị vô hiệu còn nếu các chủ thể là vợ chồng có tài sản chung thực hiện thỏa thuận thì cần phải tuân thủ các hành vi không được vi phạm các quyền như đã nêu.

3.2. Chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có điều khoản cụ thể, quy định trực tiếp về các trường hợp chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận. Tuy nhiên, từ các điều luật liên quan thì có thể xác định các trường hợp sau đây, thỏa thuận về chế độ tài sản sẽ bị chấm dứt:

Thứ nhất, vợ chồng thỏa thuận chấm dứt chế độ tài sản theo thỏa thuận. 

Thứ hai, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu toàn bộ. 

Thứ ba, quan hệ hôn nhân chấm dứt. Chế độ tài sản theo thỏa thuận chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, nên quan hệ hôn nhân chấm dứt sẽ làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận.

4. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận khi ly hôn

 

Áp dụng chế độ tài sản
Áp dụng chế độ tài sản

Việc vợ chồng chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận ngày từ khi kết hôn thì những nội dung của thỏa thuận mà không bị vô hiệu sẽ có hiệu lực và được áp dụng đến cả khi ly hôn. Theo đó trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó, chia tài sản chung như nào, ai được bao nhiêu đều phải theo đúng nội dung của thỏa thuận mà hai bên đã thực hiện trước đó có hiệu lực.

Nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định mà Luật Hôn nhân và gia đình quy định để giải quyết. Theo đó:

 Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng sẽ chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng. Được hiểu là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập:  là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

-  Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập: là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia bằng hiện vật, hoặc chia theo giá trị (trường hợp không chia được bằng hiển vật); bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Thứ ba, tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Thứ tư, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Có thể thấy, trong lĩnh vực dân sự nói chung, lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng, pháp luật của Nhà nước ta đều ưu tiên và tôn trọng sử thỏa thuận của các bên trong mối quan hệ mà mình xác lập, chỉ cần đảm bảo không vi phạm nguyên tắc chung và không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chung, lợi ích của người khác. Việc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận và thực hiện ngay từ khi kết hôn sẽ giúp vợ chồng chủ động hơn trong khối tài sản của mình, xác định được những nghĩa vụ của mình nên có trách nhiệm hơn trong quá trình chung sống.

Xem thêm bài viết: Tranh chấp tài sản sau ly hôn được xử lý như thế nào?

Trên đây là những tư vấn của Luật Ánh Ngọc  về chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mọi thắc mắc về những vấn đề liên quan xin vui lòng liên hệ đến 0878.548.558 hoặc lienhe@luatanhngoc.vn , đội ngũ luật sư dày dặn kinh nghiệm của Luật Ánh Ngọc sẽ tư vấn, giải đáp thắc mắc cho bạn.


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác