Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định hiện hành


Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định hiện hành

Khi giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Lúc này có thể xảy ra tình huống người nhận tài sản từ giao dịch dân sự vô hiệu đã chuyển giao tài sản này cho người khác thông qua một giao dịch mới. Lúc này xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu ban đầu (muốn nhận lại tài sản) với người nhận chuyển giao tài sản là người thứ ba (muốn giữ tài sản theo giao dịch của mình). Vậy tình huống này pháp luật quy định như thế nào về bảo vệ quyền lợi người thứ ba? Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì hậu quả của nó là gì và giao dịch của người thứ ba có vô hiệu theo giao dịch ban đầu hay không? Hãy cùng Luật Ánh Ngọc tìm hiểu thông qua bài viết Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu và việc bảo vệ người thứ ba ngay tình dưới đây nhé!

1. Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

 

Giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự

 

1.1. Giao dịch dân sự vô hiệu là gì?

Trước hết, để hiểu giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Chúng ta cùng tìm hiểu sơ qua khái niệm giao dịch dân sự. Theo quy định tại Điều 121 BLDS 2015 thì giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự không đương nhiên có hiệu lực mà cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015:

- Một là, chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

- Hai là, chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Ba là, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Trên đây là 3 điều kiện bắt buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực theo quy định pháp luật. Ngoài ra, hình thức của giao dịch dân sự còn là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Như vậy, khi không thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật thì giao dịch dân sự vô hiệu. Hiện nay, thuật ngữ “giao dịch dân sự vô hiệu” chưa có khái niệm thống nhất nhưng có thể tiếp cận qua khái niệm sau: Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự khi xác lập các chủ thể đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật, do đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Xem thêm bài viết tại: Xử lý khi có tranh chấp về đề nghị giao kết hợp đồng

1.2. Trường hợp nào giao dịch dân sự vô hiệu?

 

Trường hợp nào giao dịch dân sự vô hiệu
Trường hợp nào giao dịch dân sự vô hiệu

Các trường hợp vô hiệu của giao dịch dân sự khi:

– Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Đây là giao dịch vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

– Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Theo quy định của pháp luật, giao dịch dân sự do giả tạo có 2 loại:

  • Giao dịch được xác lập nhằm che dấu một giao dịch khác
  • Giao dịch được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba

– Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.

Tuy nhiên không phải tất cả giao dịch dân sự do do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của  người đại diện của người đó thì Tòa án sẽ tuyên bố vô hiệu bởi có những giao dịch:

  • Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
  • Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
  • Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn. Trong giao dịch dân sự, khi xác lập làm cho một bên hoặc các bên có sự nhằm lẫn dẫn tới không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào, sự yêu cầu của bên bị nhầm lẫn cũng được chấp nhận. Nếu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Như thế nào là lừa dối, đe dọa, cưỡng ép?

  • Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó. Ví dụ: A là chủ cửa hàng quần áo “Tuổi Teen”, B là khách hàng muốn mua sỉ, lẻ quần áo ở cửa hàng của A. A đã bán cho B lô hàng kém chất lượng nhập khẩu từ Trung Quốc nhưng lại gắn nhãn là hàng Việt Nam chất lượng cao nhằm mục đích để bán được giá cao hơn.
  • Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Đây là trường hợp ban đầu họ có năng lực hành vi dân sự nhưng tại thời điểm xác lập vì những lý do khác nhau mà họ không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

– Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi giao dịch dân sự vi phạm về điều kiện có hiệu lực về hình thức vẫn có hiệu lực, cụ thể:

  • Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
  • Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Cơ sở pháp lý: Điều 123 - Điều 129 BLDS 2015

Xen thên bài viết tại: Giao dịch dân sự vô hiệu: Hậu quả pháp lý và giải quyết tranh chấp

1.3. Hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu là gì?

Khi giao dịch dân sự vô hiệu sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý sau:

- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập

- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả

- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường

- Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do BLDS, luật khác có liên quan quy định.

Cơ sở pháp lý: Điều 131 BLDS 2015

2. Pháp luật quy định như thế nào về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu?

 

Bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình
Bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình

2.1. Khái niệm người thứ ba ngay tình

Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì: “ Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình khi tham gia giao dịch dân sự vô hiệu là người được chuyển giao tài sản thông qua giao dịch mà họ không biết, không buộc phải biết tài sản đó do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch dân sự vô hiệu”. Có thể hiểu 1 cách khái quái người thứ ba ngay tình là người không có quyền tham gia vào giao dịch nhưng người này tin rằng mình có quyền giao dịch và giao dịch đáp ứng các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật

2.2. Ý nghĩa bảo vệ quyền quyền lợi của người thứ ba ngay tình

- Bảo đảm công bằng, hợp lý đối với người thứ ba ngay tình. Thể hiện dưới góc độ pháp luật đưa ra các quy định bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch của người thứ ba sẽ không bị vô hiệu nếu đáp ứng điều kiện luật định.

- Bảo đảm sự ổn định trong các quan hệ dân sự. Xuất phát từ ý nghĩa bảo đảm công bằng, hợp lý đối với người thứ ba ngay tình. Khi bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự thì sẽ tăng lên độ tin cậy của giao dịch dân sự, từ đó duy trì và phát triển sự trao đổi giữa các chủ thể trong giao lưu dân sự.

2.3. Khi giao dịch dân sự vô hiệu quyền lợi người thứ ba được bảo vệ như thế nào?

Để được pháp luật bảo vệ quyền lợi thì người thứ ba ngay tình cần đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, trước khi người thứ ba tham gia vào giao dịch dân sự thì đã có một giao dịch dân sự trước đó xác lập, thực hiện mà giao dịch dân sự trước đó bị vô hiệu. Nghĩa là, quyền lợi của người thứ ba ngay tình được đặt ra khi tồn tại từ 2 giao dịch trở lên, cụ thể: (i) giao dịch thứ nhất là giao dịch giữ người thứ nhất là chủ sở hữu tài sản với người thứ hai;(ii) giao dịch thứ hai là giao dịch giữa người thứ hai với người thứ ba ngay tình. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua sơ đồ sau:

 

Sơ đồ giao dịch
Sơ đồ giao dịch

Thứ hai, người thứ ba xác lập giao dịch dân sự phải ngay tình. Người thứ ba ngay tình là người không không biết, không buộc phải biết tài sản đó do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch dân sự vô hiệu. Họ có căn cứ tin rằng đối tượng và chủ thể giao dịch với mình đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Người thứ ba phải làm rõ sự ngay tình của mình bằng cách cung cấp chứng cứ để chứng minh rằng họ không biết và không thể biết đến tài sản của giao dịch mà họ tham gia không thuộc quyền sở hữu của bên tham gia giao dịch

Thứ ba, người thứ ba có cơ sở tin rằng người thứ hai khi giao dịch với mình có quyền định đoạt đối với tài sản. Căn cứ để xác định người thứ hai có quyền định đoạt với tài sản phụ thuộc vào loại tài sản là đối tượng của giao dịch, bao gồm: tài sản không phải đăng ký và tài sản phải đăng ký. Cụ thể:

- Trong giao dịch dân sự tài sản không phải đăng ký:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLDS 2015 khi giao dịch dân sự có đối tượng là tài sản không phải đăng ký, nếu đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực.

Những động sản không phải đăng ký quyền sở hữu (tức là không có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản do cơ quan nhà nước cấp) thì người thứ ba ngay tình không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật. Bởi, đối tượng giao dịch tài sản không phải đăng ký nên người thứ ba ngay tình không thể dựa vào hệ thống đăng ký để biết ai là chủ sở hữu mà chỉ có thể dựa vào tình trạng thực tế là ai đang là người trực tiếp chiếm hữu, thực hiện quyền đối với tài sản.

Mặt khác, cần lưu ý việc chuyển giao tài sản phải hoàn thành trên thực tế và người thứ ba ngay tình là chủ thể thực tế đã chiếm hữu tài sản. Ngược lại, nếu người thứ ba ngay tình chưa chiếm hữu tài sản không đăng ký thì người thứ ba ngay tình cũng sẽ không được bảo vệ quyền lợi theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLDS 2015.

Tuy nhiên, cần lưu ý 2 trường hợp ngoại lệ sau:

  • Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản.

Như vậy, người thứ ba phải có được tài sản thông qua giao dịch dân sự có đền bù. Điều này có nghĩa là một bên chủ thể sau khi làm một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của chủ thể phía bên kia thì sẽ thu một lợi ích vật chất nhất định từ chủ thể bên đó. Do đó, nếu người thứ ba có tài sản thông qua giao dịch không có đền bù (ví dụ như hợp đồng tặng cho tài sản) thì giao dịch dân sự với người thứ ba này không có hiệu lực vì nó không ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba.

  • Trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

- Trong giao dịch về tài sản phải đăng ký:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu. Nghĩa là, giao dịch trước đó bị vô hiệu nhưng giao dịch của người thứ ba ngay tình trong trường hợp này vẫn phát sinh hiệu lực, được pháp luật bảo vệ. Như vậy, muốn được pháp luật bảo vệ trong trường hợp này thì người thứ ba ngay tình cần đáp ứng 3 điều kiện sau:

  • Tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là cơ sở để người thứ ba ngay tình căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch

Trước hết, cần hiểu đăng ký là việc chủ thể thực hiện các thủ tục luật định để được cơ quan có thẩm quyền cấp các loại giấy tờ mà căn cứ vào đó có thể chứng minh người người đứng tên giấy có quyền sở hữu, quyền sử dụng, ví dụ như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu và tài sản khác gắn liền với đất. Ngoài ra còn có những tài sản theo quy định của pháp luật phải đăng ký nhưng không phải giấy chứng nhận quyền sở hữu như giấy đăng ký xe ô tô

  • Việc tài sản đó đã được chuyển giao bằng 1 giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình là cơ sở nhằm phát sinh quyền của người thứ ba đối với tài sản
  • Người thứ ba ngay tình căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thể hiện người thứ ba ngay tình đã có căn cứ để tin rằng đối phương trong giao dịch có quyền định đoạt tài sản

Khi người thứ ba xác lập, thực hiện giao dịch với bên chưa thực hiện thủ tục đăng ký tài sản tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì về nguyên tắc giao dịch của người thứ ba sẽ bị vô hiệu. Tuy nhiên, cần lưu ý 2 trường hợp ngoại lệ sau, giao dịch của người thứ ba sẽ không vô hiệu khi tài sản phải đăng ký nhưng mà chưa đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm:

  • Trường hợp 1: người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền. Bán đấu giá là hoạt động được thực hiện minh bạch, công khai với trình tự, thủ tục luật định, được thừa nhận hợp pháp.
  • Trường hợp 2: người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa

Trên đây là bài phân tích của Công ty Luật Ánh Ngọc về Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định hiện hành. Nếu bạn không may rơi vào tình huống là người thứ ba trong giao dịch dân sự thì chúng tôi hy vọng với bài phân tích trên phần nào giúp ích và hỗ trợ cho bạn, giúp bạn bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình.


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác