Mức xử phạt hành vi cưỡng ép người khác quan hệ tình dục


Mức xử phạt hành vi cưỡng ép người khác quan hệ tình dục
Mức xử phạt đối với người có hành vi cưỡng ép người khác quan hệ tình dục thường phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của từng hành vi cụ thể. Mức phạt có thể bao gồm án tù, tiền phạt, hoặc cả hai. Mục tiêu của việc xử phạt là bảo vệ quyền và sự an toàn của người bị hại, đồng thời trừng trị và ngăn chặn các hành vi cưỡng ép tình dục trong xã hội.

Hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục được cụ thể hóa bằng 02 tội là tội hiếp dâm và tội cưỡng dâm trong Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, Theo quy định, do trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương, còn nhỏ tuổi nên sẽ có sự phân biệt mức phạt đối dành cho người có hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục đối với trẻ em và người có hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục đối với người lớn. Cụ thể như sau:

1. Mức phạt đối với tội hiếp dâm

1.1. Mức phạt đối với tội hiếp dâm

Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi 2017) xác định "mức phạt đối với tội hiếp dâm" như sau:

Khung 1: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng nạn nhân đang trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Khung 2: Nếu Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • Có tổ chức;
  • Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;
  • Nhiều người hiếp một người;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với 02 người trở lên;
  • Có tính chất loạn luân;
  • Làm nạn nhân có thai;
  • Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
  • Tái phạm nguy hiểm.

Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc có thể lĩnh án tù chung thân:

  • Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe cho người khác hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
  • Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn cố tình phạm tội.
  • Làm cho nạn nhân chết hoặc tự sát.

Ngoài ra, phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Phạm tội trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 141 Bộ luật Hình sự sẽ bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 01 năm đến 05 năm.

Xem thêm bài viết: Người bao nhiêu tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định

 

Mức phạt đối với tội hiếp dâm
Mức phạt đối với tội hiếp dâm

1.2. Mức phạt đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi tại Điều 142. Hành vi bị xem là tội hiếp dâm khi người phạm thực hiện các hành vi sau:

  • Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;
  • Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

Khung hình phạt cho hành vi này là từ 7 đến 15 năm tù. Ngoài ra, nếu hành vi hiếp dâm có các tình tiết như tính chất loạn luân, làm nạn nhân có thai, gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân, đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh, phạm tội hai lần trở lên, có tổ chức, nhiều người hiếp một người, phạm tội với người dưới 10 tuổi, làm nạn nhân chết hoặc tự sát, thì người phạm tội sẽ bị phạt nặng hơn từ 12 đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Ngoài việc bị phạt tù, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.

Xem thêm bài viết: Pháp luật Việt Nam về tội cưỡng ép quan hệ tình dục

 

Mức phạt đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
Mức phạt đối với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi

2. Mức phạt đối với tội cưỡng dâm

2.1. Mức phạt đối với tội cưỡng dâm

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, "mức phạt đối với tội cưỡng dâm" như sau:

Khung hình phạt thứ nhất: Được phạt tù từ 01 năm đến 05 năm trong trường hợp buộc người phụ thuộc hoặc người trong tình trạng quẫn bách phải thực hiện mối quan hệ tình dục mà họ không đồng ý.

Khung hình phạt thứ hai: Được phạt tù từ 03 năm đến 10 năm trong các tình huống sau đây:

  • Nhiều người cưỡng dâm một người;
  • Phạm tội cưỡng dâm ít nhất 02 lần;
  • Hành vi cưỡng dâm đối với ít nhất 02 người;
  • Có tính chất loạn luân;
  • Làm nạn nhân có thai;
  • Gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe, hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
  • Tái phạm nguy hiểm.

Khung hình phạt thứ ba: Được phạt tù từ 10 năm đến 18 năm trong các tình huống sau đây:

  • Gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
  • Gây chết hoặc tự tử cho nạn nhân.

Đối với việc cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, sẽ bị án tù từ 02 năm đến 07 năm.

Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 01 năm đến 05 năm.

Xem thêm bài viết: Người có hành vi sàm sỡ người khác bị xử lý như thế nào?

2.2. Mức phạt đối với tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 144 Bộ luật Hình sự 2015. Hành vi bị xem là tội cưỡng dâm khi người phạm tội thực hiện các hành vi: Dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Khung hình phạt cho hành vi này là từ 5 đến 10 năm tù. Tuy nhiên, mức hình phạt có thể tăng cao dần nếu hành vi cưỡng dâm có các tình tiết tăng nặng, nghiêm trọng như có tính chất loạn luân, làm nạn nhân có thai, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%, phạm tội hai lần trở lên, đối với hai người trở lên, tái phạm nguy hiểm.

Nếu hành vi cưỡng dâm thuộc một trong các trường hợp nghiêm trọng như nhiều người cưỡng dâm một người, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên, biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội, làm nạn nhân chết hoặc tự sát, thì người phạm tội sẽ bị phạt từ 12 đến 20 năm tù hoặc có thể án tù chung thân.

Ngoài việc bị phạt tù, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.

 

Mức phạt đối với tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Mức phạt đối với tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

3. Hướng dẫn xác định các tình tiết định khung đối với tội cưỡng ép quan hệ tình dục 

3.1. Có tổ chức

Việc phạm tội cưỡng ép quan hệ tình dục có tổ chức đề cập đến sự kết hợp chặt chẽ giữa những người cùng tham gia vào hành vi phạm tội (được quy định tại Khoản 2 Điều 17 Bộ Luật Hình sự 2015, được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017).

Điều này ám chỉ tới tình huống khi nhiều người tập hợp, hợp tác một cách cố ý, lập kế hoạch để thực hiện một tội phạm, và tất cả hoạt động dưới sự chỉ đạo của một người đứng đầu. Tuy nhiên, không có sự đánh giá cụ thể về mức độ hợp tác, phân công nhiệm vụ, và vai trò cụ thể của từng người trong hành vi phạm tội khi xem xét về tội phạm có tổ chức. Mức độ tăng nặng của trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào vai trò của mỗi người trong tội phạm và quy mô của vụ án. Vì vậy, khi xem xét hình phạt, mức hình phạt của người tổ chức có thể khác biệt so với những đồng phạm khác nếu tất cả các tình tiết khác của vụ án giống nhau.

3.2. Người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh

Hình thức này ám chỉ việc người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm đối với người mà họ có trách nhiệm chăm sóc (trường hợp loạn luân thì áp dụng tình tiết định khung "có tính chất loạn luân"), giáo dục (ví dụ: thầy – trò...), chữa bệnh (bác sĩ – bệnh nhân...). Trong trường hợp mà hành vi hiếp dâm không liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục, hoặc chữa bệnh, thì tình tiết này không áp dụng.

3.3. Có tính chất loạn luân

Có tính chất loạn luân ám chỉ các trường hợp sau đây:

– Phạm tội đối với người có quan hệ họ hàng gần với người phạm tội, bao gồm anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ, hoặc cùng mẹ khác cha;

– Phạm tội đối với con dâu, bố chồng, mẹ vợ, con rể.

3.4. Nhiều người hiếp một người

Nhiều người hiếp một người ám chỉ tình huống trong đó ít nhất có 02 người cùng tham gia hiếp dâm 01 người. Cũng được coi là "nhiều người hiếp một người" nếu có ít nhất 02 người cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay phiên hiếp dâm 01 người, nhưng chỉ khi một người thực hiện được hành vi hiếp dâm do nguyên nhân ngoài ý muốn.

Không coi là "nhiều người hiếp một người" nếu có ít nhất 02 người cùng kế hoạch và hợp tác để giúp 01 người hiếp dâm (trong tình huống này, họ được coi là đồng phạm).

3.5. Nhiều người cưỡng dâm một người

Nhiều người cưỡng dâm một người đề cập đến tình huống trong đó ít nhất có 02 người tham gia cưỡng dâm 01 người. Cũng được coi là "nhiều người cưỡng dâm một người" nếu có ít nhất 02 người cùng bàn bạc, thống nhất sẽ thay phiên cưỡng dâm 01 người, nhưng chỉ khi một người thực hiện được hành vi cưỡng dâm do nguyên nhân ngoài ý muốn.

Không coi là "nhiều người cưỡng dâm một người" nếu có ít nhất 02 người cùng kế hoạch và hợp tác để giúp 01 người cưỡng dâm (trong trường hợp này, họ được coi là đồng phạm).

3.6. Phạm tội 02 lần trở lên

Phạm tội 02 lần trở lên ám chỉ tình huống khi người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội ít nhất 02 lần mà chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn còn hiệu lực.

3.7. Tái phạm nguy hiểm

Các tình tiết sau đây được xem là tái phạm nguy hiểm:

– Đã bị kết án về tội phạm cực kỳ nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, và không xóa bỏ được hình phạt, nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm cực kỳ nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng một cách cố ý;

– Đã tái phạm và chưa xóa bỏ hình phạt, nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý.

(Khoản 2 Điều 53 Bộ Luật Hình sự 2015, được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017)


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác