1. Thực trạng hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số và thương mại điện tử, các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu ngày càng diễn biến phức tạp. Trong đó, hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn là một trong những hình thức vi phạm phổ biến nhất.
Trên thực tế, nhiều tổ chức, cá nhân đã sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang được bảo hộ nhằm tạo sự liên tưởng với thương hiệu nổi tiếng hoặc thương hiệu đã có uy tín trên thị trường. (Ví dụ: Tranh chấp về nhãn hiệu “ASANO, hình” và nhãn hiệu “ASANZO” được giải quyết tại Bản án phúc thẩm số 01/2019/KDTM-PT ngày 09 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh).
Hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn không chỉ gây thiệt hại về doanh thu, uy tín và khả năng cạnh tranh của chủ sở hữu nhãn hiệu mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng khi họ có thể hiểu sai về nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ. Do vậy, việc nắm rõ các quy định hiện hành điều chỉnh vấn đề này chính là cơ sở để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
2. Các hành vi sử dụng nhãn hiệu bị coi là gây nhầm lẫn
Để bảo vệ được quyền lợi của mình, trước hết, chủ thể cần xác định được những hành vi sử dụng nhãn hiệu bị coi là gây nhầm lẫn cũng như định nghĩa về thuật ngữ này.
2.1. Định nghĩa về hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn
Hiện nay pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam không đưa ra giải thích cụ thể thế nào là hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn, tuy nhiên, tham khảo tinh thần Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, có thể hiểu về thuật ngữ này như sau:
Hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn là việc một tổ chức hoặc cá nhân sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan, làm cho người tiêu dùng có thể hiểu sai về nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ đó.
Trong đó, theo khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 thì nhãn hiệu được hiểu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
2.2. Các hành vi sử dụng nhãn hiệu bị coi là gây nhầm lẫn hiện nay
Theo khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, các hành vi sau (không được phép của chủ sở hữu) bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:
(a); Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng
Đây là trường hợp dấu hiệu được sử dụng hoàn toàn giống với nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ và được gắn lên chính loại hàng hóa hoặc dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.
Ví dụ: Công ty A đăng ký bảo hộ nhãn hiệu “ABC” cho nhóm hàng hóa 25 (Quần áo, đồ đi chân, đồ đội đầu). Anh Z mua quần áo về gia công và gắn nhãn hiệu “ABC” lên để bán. Hành vi của anh Z là sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa trùng.
(b); Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan
Mặc dù hàng hóa hoặc dịch vụ không hoàn toàn trùng nhau nhưng có mối liên hệ về chức năng, công dụng,... khiến người tiêu dùng có thể cho rằng chúng có cùng nguồn gốc thương mại.
Ví dụ: Anh A đăng ký nhãn hiệu “BCD” cho sản phẩm nước ga. Một doanh nghiệp khác bán nước tăng lực hoặc nước trái cây dưới dấu hiệu “BCD”. Tuy hàng hóa không trùng nhau nhưng vẫn có sự tương tự, dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
(c); Sử dụng dấu hiệu tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ
Đây là trường hợp sử dụng dấu hiệu có thể khác một số yếu tố về chữ, hình ảnh, màu sắc, cách trình bày,.... nhưng xét tổng thể vẫn tạo ra ấn tượng tương tự khiến người tiêu dùng khó phân biệt.
Ví dụ: Tranh chấp về nhãn hiệu “ASANO, hình” và nhãn hiệu “ASANZO” được giải quyết tại Bản án phúc thẩm số 01/2019/KDTM-PT ngày 09 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
(d); Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng
Khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định rõ việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng cho bất kỳ hàng hóa, dịch vụ nào nếu làm người tiêu dùng hiểu sai về mối quan hệ giữa các chủ thể hoặc làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng đều có thể bị coi là hành vi xâm phạm.
Trên đây là 04 hành vi sử dụng nhãn hiệu bị coi là gây nhầm lẫn hiện nay. Quý bạn đọc có thể tham khảo để áp dụng phù hợp với trường hợp của mình.
>>>> Xem thêm: Điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý: Quy định mới nhất
3. Tiêu chí xác định khả năng gây nhầm lẫn giữa các nhãn hiệu
Hiện nay không có quy định cụ thể chỉ rõ những tiêu chí xác định khả năng gây nhầm lẫn giữa các nhãn hiệu, tuy hiên, dựa trên thực tiễn hiện nay và các quy định liên quan tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung bởi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009, 2022 có thể đưa ra một số tiêu chí phổ biến sau:
- Mức độ tương tự: Tiêu chí này được đánh giá dựa trên cách phát âm, ý nghĩa, hình ảnh, màu sắc và bố cục tổng thể của nhãn hiệu.
- Tính liên quan của hàng hóa, dịch vụ: Tiêu chí này được đánh giá dựa trên chức năng, công dụng, tập quán và địa điểm mua bán của hàng hóa, dịch vụ.
- Đặc điểm của đối tượng tiêu dùng: Đối tượng tiêu dùng giữa các nhãn hiệu có điểm chung về phân khúc giá cả, trình độ nhận thức,...thì tỷ lệ gây nhầm lẫn sẽ cao hơn.
- Chứng cứ về trường hợp nhầm lẫn: Đây cũng là một trong những bằng chứng chứng minh khả năng gây nhầm lẫn giữa các nhãn hiệu một cách trực quan nhất.
Có thể thấy, việc đánh giá khả năng gây nhầm lẫn giữa các nhãn hiệu không chỉ dựa trên một yếu tố riêng lẻ mà phải xem xét tổng thể nhiều yếu tố khác nhau.
>>>> Xem thêm: Chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ
4. Hậu quả pháp lý của hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn
Để răn đe các chủ thể thực hiện hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn, pháp luật hiện hành đã đặt ra nhiều hậu quả pháp lý mà chủ thể này phải gánh chịu. Cụ thể:
4.1. Trách nhiệm dân sự
Theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (bổ sung bởi Khoản 67 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025), chủ thể vi phạm có thể bị áp dụng các biện pháp sau:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai.
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự.
- Buộc bồi thường thiệt hại.
- Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nếu không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
Việc áp dụng biện pháp dân sự nào hoàn toàn do mức độ nghiêm trọng của hành vi và từng trường hợp cụ thể mà cơ quan nhà nước ra quyết định áp dụng phù hợp.
4.2. Trách nhiệm hành chính
Theo Điều 214 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bổ sung bởi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009, 2022, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt sau:
- Cảnh cáo.
- Phạt tiền.
- Tịch thu hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên vật liệu, phương tiện dùng để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ.
- Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vi phạm.
- Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nếu không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá.
Mức phạt tiền được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được.
4.3. Trách nhiệm hình sự
Điều 226 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định tách bạch về trách nhiệm hình sự đối với tổ chức và cá nhân thực hiện hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn như sau:
Đối với cá nhân: Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam mà thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
- Quy quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.
- Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
- Hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Đối với pháp nhân: Doanh nghiệp cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam mà thuộc một trong các trường hợp dưới đây thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng
- Quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Có thể thấy, việc pháp luật đặt ra hàng loạt trách nhiệm pháp lý mà chủ thể thực hiện hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn có thể phải gánh chịu đã phần nào thể hiện sự quan tâm của Nhà nước tới lĩnh vực sở hữu trí tuệ này.
5. Một số câu hỏi liên quan
Dưới đây là phần giải đáp một số câu hỏi liên quan tới hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn.
5.1. Chủ sở hữu nhãn hiệu cần làm gì khi phát hiện hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn?
Căn cứ Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bổ sung bởi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2019, 2022, khi phát hiện hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn của chủ thể khác, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể thực hiện các biện pháp sau để tự bảo vệ quyền của mình:
- Áp dụng các biện pháp công nghệ khác nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
- Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại.
- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
- Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Việc áp dụng biện pháp nào hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu của chủ sở hữu quyền đối với nhãn hiệu và thiện chí của bên vi phạm.
5.2. Luật Ánh Ngọc cung cấp dịch vụ bảo hộ nhãn hiệu không?
Có. Với tư cách là một trong những đơn vị pháp lý hàng đầu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nói riêng, chúng tôi luôn sẵn sàng đồng hành cùng bạn trên con đường đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hoặc bảo vệ quyền lợi chính đáng khi bị xâm phạm.
Qua những phân tích trên đây, Luật Ánh Ngọc đã giúp bạn đọc nắm rõ các thông tin cơ bản xoay quanh vấn đề hành vi sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn. Việc hiểu rõ các quy định hiện hành điều chỉnh vấn đề này sẽ là cơ sở để quý bạn đọc bảo vệ quyền hợp pháp của mình. Trường hợp có thắc mắc liên quan tới vấn đề này, quý khách hàng có thể liên hệ với Luật Ánh Ngọc để được giải đáp.