Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn có phải là con chung không?


Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn có phải là con chung không?
Bài viết này sẽ giải đáp một câu hỏi phổ biến và phức tạp trong lĩnh vực pháp lý về quyền tổ tông và quyền gia đình. Hãy cùng tìm hiểu về tình huống khi con được sinh ra trước khi cha mẹ đăng ký kết hôn, và liệu con có được coi là con chung trong bối cảnh pháp luật hay không.

1. Đăng ký kết hôn là gì? 

 

Đăng ký kết hôn là gì
Đăng ký kết hôn là gì?

Theo cách hiểu thông thường, “kết hôn” chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng và việc này thường được hợp thức bằng các nghi lễ cưới hỏi. Tùy thuộc vào phong tục, tập quán và tín ngưỡng mà người kết hôn sẽ chọn một nghi thức cưới phù hợp như tổ chức lễ tại gia đình với sự chứng kiến của người thân, họ hàng, bạn bè hai bên, hoặc có thể xen kẽ nghi thức tôn giáo, tổ chức ở nhà thờ,.... Về bản chất, lễ cưới này được tiến hành nhằm thông báo sự kiện hai bên nam nữ trở thành vợ chồng cho gia đình cũng như họ hàng và bạn bè cùng biết đến. Việc kết hôn được tổ chức như trên chỉ là sự công nhận dưới góc độ xã hội.

Hôn nhân chính là cơ sở để hình thành gia đình - tế bào của xã hội. Vì vậy, để có thể đảm bảo quan hệ hôn nhân được bền lâu, Nhà nước đã sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, làm cho những quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một cách phù hợp với tiêu chí xây dựng và quy định của Nhà nước. Từ đó hình thành khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý, tức việc hai bên thành vợ chồng được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ mối quan hệ khi tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

Vậy, đăng ký kết hôn được hiểu là việc hai bên nam nữ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khai báo việc kết hôn, sau khi cơ quan có thẩm quyền xem xét đã thỏa mãn các điều kiện kết thôn thì ghi vào Sổ đăng ký kết hôn để chính thức công nhận nam nữ là vợ chồng trước pháp luật. Đăng ký kết hôn là hoạt động hành chính nhà nước, là thủ tục pháp lý cần thiết làm cơ sở để Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân nam nữ.

2. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn có phải là con chung không?

Trước đây, “ăn cơm trước kẻng” được coi là một điều cấm kỵ. Tuy nhiên, ngày nay khi mà nền kinh tế phát triển, suy nghĩ của mọi người thoáng hơn, hiện đại hơn, cũng vì sự phát triển đó mà nhiều bạn trẻ không còn muốn sinh con, nhiều cặp vợ chồng lấy nhau về rất lâu mà không có con nên nhiều người có xu hướng muốn có con rồi mới cưới, nhưng không phải cứ có con rồi cưới nhau con sinh ra sẽ là con chung của hai người.

2.1. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn là con chung?

Vậy con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn có phải là con chung không? Luật Ánh Ngọc xin trả lời rằng có thể là con chung. Câu trả lời là “có thể có”, bởi lẽ, việc có phải là con chung của vợ chồng hay không phụ thuộc vào sự thừa nhận của cha mẹ, hoặc nếu cha mẹ không thừa nhận thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định (Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình quy định về xác định cha, mẹ)

Như vậy, theo quy định trên, con sinh ra trước khi cha mẹ đăng ký kết hôn và được cả cha và mẹ thừa nhận thì là con chung của vợ chồng và trường hợp này Tòa án sẽ không can thiệp vào. Tuy nhiên nếu có tranh chấp, bất đồng về việc có phải là con chung hay không thì một bên bố hoặc mẹ phải yêu cầu Tòa án xác định, khi này Tòa án sẽ là bên thứ ba giải quyết để xác định có phải là con chung hay không.

2.2. Cách xác định con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn là con chung

Để xác định con chung có các cách sau đây:

Thứ nhất, cha và mẹ thừa nhận con sinh ra trước thời kỳ hôn nhân này là con chung của họ.

Thứ hai, có chứng cứ và được Tòa án xác định là con chung.

Trong trường hợp này, nếu cha, mẹ không thừa nhận đó là con chung thì phải cung cấp chứng cứ chứng minh con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn không phải là con của họ với người chồng, người vợ mà mình đăng ký kết hôn.

Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình đã quy định về việc xác định con, theo đó, người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Hoặc người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Khi yêu cầu Tòa án xác định đây không phải là con mình thì người yêu cầu là cha, mẹ phải cung cấp chứng cứ như: Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận không có quan hệ cha con, quan hệ mẹ con; Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định và có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha con, mẹ con.

3. Đăng ký giấy khai sinh cho con sinh ra khi mà bố mẹ chưa đăng ký kết hôn

 

đăng ký khai sinh
Đăng ký khai sinh

Làm giấy khai sinh có tên cha khi chưa đăng ký kết hôn là điều đáng quan tâm của các bậc cha mẹ. Con cái khi sinh ra trước khi đăng ký kết hôn vẫn có quyền được có tên mang họ cha hoặc mẹ, có giấy khai sinh.

3.1. Trách nhiệm làm giấy khai sinh cho con

Theo khoản 6 Điều 4 Luật Hộ tịch 2014 quy định thì Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh.

Ai có trách nhiệm làm giấy khai sinh cho con?

Theo Điều 15 Luật hộ tịch 2014, những người sau đây có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con:

- Cha hoặc mẹ của con;

- Trường hợp cha mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

Khi nào làm giấy khai sinh cho con?

Theo khoản 3 Điều 30 Bộ luật dân sự năm 2015 thì trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử. Trường hợp sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.

Thời hạn đăng ký khai sinh cho con?

Thời hạn đăng ký khai sinh cho con là 60 ngày kể từ ngày con được sinh ra (căn cứ theo Điều 15 Luật Hộ tịch 2014).

3.2. Thủ tục đăng ký khai sinh cho con

Khi đi làm giấy khai sinh cho con, cần phải cung cấp những thông tin sau:

- Thông tin của người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch;

- Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú (Con mang họ cha hay mẹ được xác định theo thỏa thuận);

- Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh.

Thông thường, khi đăng ký khai sinh cho con mà chưa đăng ký kết hôn thì không bắt buộc phải có thông tin của người cha, phần đó có thể để trống.  Nếu sau đó, cha và mẹ của con tiến hành đăng ký kết hôn. Lúc này, người cha không cần làm lại giấy khai sinh mà thực hiện thủ tục bổ sung hộ tịch, nếu vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục nhận cha, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con. (Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP)

Tuy nhiên, nếu chưa đăng ký kết hôn vẫn có quyền có tên cha trong giấy khai sinh. Khi này người là cha phải thực hiện thủ tục và nộp các giấy tờ sau:

- Tờ khai yêu cầu đăng ký nhận cha con tại UBND cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận. Kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh quan hệ cha con;

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch cùng người đăng ký nhận cha con ký vào Sổ hộ tịch

- Sau đó, công chức tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

Vậy, con sinh ra trước khi đăng ký kết hôn có thể được coi là con chung nếu hai bên vợ chồng đều thừa nhận con được sinh ra là con chung của mình. Hoặc nếu có tranh chấp thì một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Vậy là, nếu cả hai bên đều không thừa nhận là con chung hoặc một trong hai bên không thừa nhận, đã có yêu cầu Tòa án giải quyết và Tòa ra quyết định không phải là con chung thì đó sẽ là con riêng của người vợ. Việc đăng ký khai sinh cho con khi mà sinh ra trước khi kết hôn vẫn được thực hiện bình thường để đảm bảo quyền, lợi ích của con nhỏ và thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật dân sự 2015, Luật hộ tịch 2014 và các văn bản khác liên quan.

Trên đây là những tư vấn của Luật Ánh Ngọc đối với vấn đề "Con sinh ra trước khi đăng ký kết hôn có phải là con chung không?", đồng thời Luật Ánh Ngọc cũng đã trình bày thêm các vấn đề liên quan đến việc khai sinh cho con trong trường hợp này. Mọi thắc mắc liên quan hãy liên hệ với chúng tôi qua 0878.548.558 hoặc lienhe@luatanhngoc.vn, Luật Ánh Ngọc với đội ngũ Luật sự có nhiều năm kinh nghiệm sẽ hỗ trợ và giải đáp các thắc mắc của bạn. 


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác