“Tái phạm” và “Tái phạm nguy hiểm” liệu có khác nhau?


“Tái phạm” và “Tái phạm nguy hiểm” liệu có khác nhau?
Tái phạm và tái phạm nguy hiểm là hai tình tiết được quy định tại cùng một điều luật, quy định trong cùng một điểm vì vậy nhiều khi giữa hai tình tiết này người ta lầm tưởng nó là một hoặc xác định sai giữa hai trường hợp này. Việc áp dụng pháp luật về tái phạm, tái phạm nguy hiểm sai dẫn đến những hậu quả pháp lý như tuyên mức án không tương xứng với mức độ, tính chất của hành vi phạm tội từ đó làm suy giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

1. Khái niệm về tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “tái phạm” có nghĩa là “sự lặp lại những sai lầm cũ, tội cũ”. Hiểu theo nghĩa rộng “tái phạm” chính là sự lặp lại hành vi của chính mình, hành vi đó có thể là hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật hay hành vi phạm tội và thường là những hành vi mà xã hội không mong muốn. Xét dưới góc độ pháp luật hình sự, thì “tái phạm” được hiểu là hành vi lặp lại hành vi phạm tội của chính mình. Hành vi phạm tội lặp lại có thể trùng lặp, cũng có thể không trùng lặp về hình thức lỗi đối với hành vi phạm tội trước đó, có thể cùng loại tội cũng có thể khác loại tội.

Tái phạm nguy hiểm" được hiểu là tái phạm ở mức nghiêm trọng hơn, lặp lại hành phạm tội nghiêm trọng của chính mình, và tội lặp lại này có thể trung hoặc khác với loại tội phạm đã phạm phải.

Xem thêm: Tái phạm nguy hiểm có được hưởng án treo không?

2. Quy định của pháp luật hình sự về tái phạm, tái phạm nguy hiểm

 

Quy định của pháp luật hình sự về tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Quy định của pháp luật hình sự về tái phạm, tái phạm nguy hiểm

2.1. Tái phạm

Tái phạm là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định trong khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Bộ luật này đồng thời cũng quy định chi tiết về tái phạm nguy tại khoản 1 Điều 53 như sau: Tái phạm là trường hợp mà người phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội do vô ý về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.

  • Người phạm tội đã bị kết án tức là đã có bản án xét xử của Tòa án về một loại tội phạm nào đó đã có hiệu lực.
  • Người phạm tội chưa được xóa án tích. Một người phạm tội được xóa án tích thì sẽ được coi như chưa bị kết án về hành vi phạm tội đó. Tuy nhiên, kể từ khi chấp hành xong hình phạt đến thời điểm phạm tội mới mà chưa hết thời hạn được đương nhiên xóa án tích hoặc chưa có quyết định xóa án tích của Tòa án thì sẽ thuộc trường hợp chưa được xóa án tích.
  • Phạm tội mới do cố ý là thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, tức là bản thân họ biết hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm sẽ xảy ra, mong muốn hoặc không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
  • Phạm tội mới do vô ý tức là người phạm tội biết được hành vi của mình có thể gây ra nguy hiểm nhưng lại cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; hoặc người phạm tội không thấy trước hậu quả của hành vi của mình mặc dù phải thấy trước hoặc có thể thấy trước. Ví dụ: A dọn dẹp nhà cửa ở tầng 5 khu chung cư, có một số đồ vật bỏ đi mà nếu mang từ tầng 5 xuống thì vất vả nên quyết định ném qua cửa sổ xuống sân ở tầng 1, trong đó có một số đồ như ghế nhựa cũ, chăn, đệm. Trước khi ném A có ngó ra cửa sổ, không thấy có người qua lại lên nghĩ là không có ai đi qua nên đã ném lần lượt các đồ đó xuống. Ngay sau khi vừa ném ghế nhựa xuống thì có chị S đi qua, ghế rơi đập vào đầu chị S làm chảy máu, phải đi khâu 4 mũi. Hành vi này của A là phạm tội do vô ý, A mặc dù biết là có thể có người đi qua gây nguy hiểm nhưng sau khi ngó nhìn không thấy có người nên vẫn ném đồ xuống và cho rằng sẽ không rơi trúng ai.

Đối với hành vi phạm tội do vố ý chỉ áp dụng đối với tội phạm rất nghiêm trọng (có mức cao nhất của khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù) hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (có mức cao nhất của khung hình phạt là từ 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân, tử hình).

2.2. Tái phạm nguy hiểm

Tái phạm nguy hiểm vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự vừa là tình tiết định khung hình phạt, được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự, gồm hai trường hợp:

  • Người phạm tội đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
  • Người phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Xem thêm quy định về Tái phạm nguy hiểm tại: Tái phạm nguy hiểm trong pháp luật hình sự Việt Nam mới nhất?

3. Sự khác nhau giữa tái phạm, tái phạm nguy hiểm

 

Sự khác nhau giữa tái phạm và tái phạm nguy hiểm
Sự khác nhau giữa tái phạm và tái phạm nguy hiểm

Từ những quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm này, chúng ta có thể thấy “Tái phạm nguy hiểm” là một trường hợp đặc biệt của “Tái phạm”, nó là tái phạm ở mức nguy hiểm hơn. Vì vậy, giữa tái phạm và tái phạm nguy hiểm sẽ có những khác biệt chủ yếu sau:

Thứ nhất, “Tái phạm nguy hiểm” không chỉ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, mà nó còn là tình tiết định khung tăng nặng quy định cụ thể trong các điều luật về tội phạm. Còn “Tái phạm” chỉ được áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không được áp dụng là tình tiết định khung hình phạt.

Thứ hai, mức độ nguy hiểm của “Tái phạm” nhẹ hơn “Tái phạm nguy hiểm”. Người tái phạm là người đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mới. Thông thường sẽ lần phạm tội thứ hai kể từ bản án trước đó. Còn với tái phạm nguy hiểm, đã bị áp dụng tái phạm, tức là phạm tội lần thứ 3 trở lên trong khi chưa hết thời hạn được xóa án tích mà lại phạm tội mới hoặc lần đầu phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, lần sau lại tiếp tục phạm loại tội này trong khi chưa hết thời hạn xóa án tích. Vì vậy, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội là cao hơn, người phạm tội mà tái phạm nguy hiểm cẩn phải xử lý, trừng trị, răn đe nghiêm khắc, đúng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.

Thứ ba, căn cứ xác định hai tình tiết này khác nhau, trong khi tái phạm căn cứ vào khoản 1 Điều 53 thì khoản 2 Điều 53 mới là quy định về tái phạm nguy hiểm.

Thứ tư, về dấu hiệu xác định. Người phạm tội mà “Tái phạm” thì có 03 dấu hiệu: đã bị kết án; chưa được xóa án tích; phạm tội mới do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. Người phạm tội mà “Tái phạm nguy hiểm” thì có các dấu hiệu sau: đã tái phạm hoặc đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án và chưa được xóa án tích; phạm tội do cố ý (không có trường hợp phạm tội do vô ý).

Trên đây là những điểm khác nhau cơ bản giữa “Tái phạm” và “Tái phạm nguy hiểm” mà chúng ta cần lưu ý để tránh nhầm lẫn giữa hai tình tiết. Và cần chú ý rằng, “Tái phạm” và “Tái phạm nguy hiểm” là hai tình tiết khác nhau hoàn toàn, mặc dù tái phạm nguy hiểm là một dạng đặc biệt của tái phạm. Mỗi tình tiết sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý và quyết định hình phạt khác nhau đối với người phạm tội. Bởi vậy cần phải xác định đúng đắn, xem xét nhiều khía cạnh, tình tiết của vụ án để có thể xác định và áp dụng chính xác hai tình tiết này.

Xem thêm: Dịch vụ xóa án tích mới nhất theo quy định hiện hành

Luật Ánh Ngọc chuyên tư vấn, hỗ trợ pháp lý, nếu các bạn có thắc mắc hay cần hỗ trợ về các lĩnh vực pháp luật, vui lòng liên hệ đến Luật Ánh Ngọc để được đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm hỗ trợ và giải đáp.


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác