Trường hợp nào người phạm tội đánh người khác phải chịu TNHS?


Trường hợp nào người phạm tội đánh người khác phải chịu TNHS?
Hiện nay rất nhiều người lựa chọn phương thức bạo lực đó là đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong cuộc sống dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Vậy hành vi đánh người khác gây thương tích có phải chịu TNHS? Hãy cùng Luật Ánh Ngọc tìm hiểu thông qua bài viết dưới đây.

1. Trường hợp nào người phạm tội đánh người khác phải chịu TNHS?

 

Trường hợp nào người phạm tội đánh người khác phải chịu TNHS?
Trường hợp nào người phạm tội đánh người khác phải chịu TNHS?

Hành vi đánh người khác mà gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi đánh người này có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Với 4 yếu tố cấu thành tội phạm sau:

  • Khách thể của tội phạm: khách thể trực tiếp chính bị xâm phạm đó là sức khỏe của con người.
  • Mặt khách quan của tội phạm: hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thể hiện thông qua hành động dùng chân tay đấm đá, dùng dao đâm, dùng gậy đánh đập,…Và hậu quả là gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe nạn nhân.
  • Chủ thể của tội phạm: người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định và đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
  • Mặt chủ quan của tội phạm: lỗi của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏa của người khác được thực hiện do cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình, thấy trước hành vi của mình có thể gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe người khác nhưng vẫn làm.

Như vậy, khi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏa của người khác thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Các loại hình phạt có thể áp dụng bao gồm cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn và tù chung thân. Cụ thể:

- Người nào có cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% - 30% thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

- Người nào có cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc 1 trong 10 trường hợp gây thương tích dưới đây thì vẫn bị khởi tố hình sự.

- Người nào có 1 trong các tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 2, 3, 4 thì tùy tình tiết tăng nặng mà có khung hình phạt sau:

  • Phạt tù từ 2 năm đến 6 năm
  • Phạt tù từ 7 năm đến 14 năm
  • Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

- Ngoài khung cơ bản và khung tăng nặng trên thì người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Như vậy, người nào có hành vi đánh người khác gây thương tích  có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi đánh người của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý trường hợp hành vi đánh người mà không gây thương tích có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Xem thêm tại đây: Hình phạt nào áp dụng cho người phạm tội cố ý gây thương tích?

2. Câu hỏi thường gặp

2.1. Trường hợp đánh người khác dẫn đến chết người phạm tội gì?

 

Trường hợp đánh người khác dẫn đến chết người phạm tội gì?
Trường hợp đánh người khác dẫn đến chết người phạm tội gì?

Trường hợp đánh người khác dẫn đến chết người có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc tội giết người. Bởi vì cả tội trên có rất nhiều dấu hiệu giống nhau như chủ thể tội phạm đều là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự, đều có hành vi tấn công đến cơ thể người khác và có hậu quả làm nạn nhân tử vong. Như vậy, trường hợp nào đánh người khác dẫn đến chết người cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và trường hợp nào đánh người khác dẫn đến chết người cấu thành tội giết người?

Theo Luật Ánh Ngọc thì muốn phân biệt được 2 tội trên thì cần phải xem xét nhiều yếu tố như hành vi phạm tội, tính nguy hiểm của công cụ, phương tiện được sử dụng, vị trí cơ thể bị tấn công, thái độ của người phạm tội,…Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu thông qua bảng phân tích dưới đây.

Tiêu chí

Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS 2015)

Tội giết người (Điều 123 BLHS 2015)

Về khách thể

Sức khỏe của con người

Tính mạng con người

Mặt chủ quan

Thực hiện với lỗi hỗn hợp. Tức là, người phạm tội có lỗi cố ý đối với hành vi phạm tội nhưng vô ý đối với hậu quả chết người, việc nạn nhân chết là ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội.

Thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có khả năng dẫn đến chết người và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc hậu quả xảy ra.

Mặt khách

quan

Về công cụ, phương tiên phạm tội: người phạm tội thường sử dụng chân tay hoặc những công cụ, phương tiện có tính nguy hiểm thấp như gậy gộc, thanh sắt, gạch đá,…

Về công cụ, phương tiên phạm tội: người phạm tội có sự chuẩn bị kỹ lưỡng công cụ, phương tiện phạm tội có tính nguy hiểm cao (dao, súng, thuốc độc,…) nhằm tước đoạt mạng sống của nạn nhân.

Vị trí tác động trên cơ thể nạn nhân: Người phạm tội thường không có sự tính toán trước vị trí tấn công, chủ yếu là theo phản xạ thường tấn công ở tay, chân, lưng, bụng, vai,…của nạn nhân.

Vị trí tác động trên cơ thể nạn nhân:  Người phạm tội thường tấn công vào những vị trí yếu hại trên người nạn nhân như phần đầu, tim, cổ,…

Cường độ khi tấn công nạn nhân: do không muốn gây ra hậu quả chết người nên cường độ tấn công của người phạm tội nhẹ hơn, khi nạn nhân mất đi khả năng phòng vệ thì thông thường người phạm tội sẽ dừng lại.

Cường độ khi tấn công nạn nhân: người phạm tội thường tấn công mạnh, dứt khoát và quyết liệt vào những vị trí yếu hại trên cơ thể nạn nhân nhằm tước đoạt mạng sống của nạn nhân.

Như vậy, tùy vào tính chất mức độ mà người nào có hành vi đánh người khác gây thương tích có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc tội giết người.

Xem thêm tại đây: Tội đánh người khác bị xử phạt ra sao theo quy định của pháp luật?

2.2. Người bị bệnh tâm thần đánh người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh người?

 

Người bị bệnh tâm thần đánh người có bị truy cứu TNHS về tội đánh người
Người bị bệnh tâm thần đánh người có bị truy cứu TNHS về tội đánh người

Theo Luật Ánh Ngọc thì người bị tâm thần đánh người sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì theo quy định tại Điều 21 BLHS 2015 thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đang mắc bệnh tâm thần mà mất khả năng nhận thức điều khiển hành vi của mình (tức là người mắc bệnh tâm thần không nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình sẽ thực hiện, biết được hành vi đó có vi phạm pháp luật hay không) thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Mặc dù người bị bệnh tâm thần đánh người không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng pháp luật quy định biện pháp xử lý khác đối với họ đó là người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

Xem thêm tại đây: Đánh người vô cớ phạt bao nhiêu tiền theo quy định pháp luật?

Trên đây là phân tích của Luật Ánh Ngọc về “Trường hợp nào người phạm tội đánh người khác phải chịu TNHS?” Bạn còn thắc mắc nào với bài viết trên hãy liên hệ tới chúng tôi để nhận hỗ trợ nhé!


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác