Cho vay nặng lãi bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?


Cho vay nặng lãi bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Mấy năm trở lại đây, khi đi trên các con đường lớn nhỏ, chúng ta không khó để bắt gặp những tờ rơi quảng cáo hỗ trợ vay vốn được dán trên tường, cột điện nhưng núp bóng đằng sau là hoạt động cho vay nặng lãi. Vậy như thế nào là cho vay nặng lãi? Cho vay lãi nặng bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Mức xử phạt đối với hành vi trên được áp dụng như thế nào? Trong bài viết hôm nay, Luật Ánh Ngọc xin đưa ra giải đáp cho các thắc mắc trên.

1. Như thế nào là cho vay nặng lãi ?

Cho vay nặng lãi hay cho vay lãi nặng là hành vi của bên cho vay cho bên còn lại vay tiền hoặc tài sản khác với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất được pháp luật cho phép các bên được thỏa thuận trong giao dịch dân sự nhằm thu lợi bất chính. Căn cứ khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định, mức lãi suất cao nhất mà các bên có thể thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay trừ trường hợp luật khác có quy định khác. Như vậy, có thể rút ra một số đặc điểm của cho vay nặng lãi như sau:

  • Mục đích của hành vi cho vay nặng lãi nhằm vào mục đích thu lời bất chính từ số tiền lãi mà người cho vay nhận được. Để xác định được số tiền lãi, các bên cho vay và bên vay sẽ xác định thông qua mức lãi suất. Lãi suất là tỷ lệ phần trăm mà người vay phải trả thêm bên cạnh số tiền gốc trên một đơn vị thời gian (tuần, tháng, năm, …).
  • Khác với hợp đồng cho vay thông thường, mức lãi suất trong các trường hợp cho vay nặng lãi thường rất cao: gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định. Theo quy định hiện nay, bên cho vay cho bên vay một khoản tiền với lãi suất từ 100%/năm trở lên hoặc trên 8,33%/tháng thì được xem là cho vay nặng lãi. Ví dụ như cho vay 1.000.000 đồng một năm với tiền lãi 5000 đồng/ngày (tương đương lãi suất 180%/năm hoặc 15%/tháng)
  • Người cho vay nặng lãi thường hướng đến những người đang có hoàn cảnh khó khăn, cấp bách, cần tiền gấp để lợi dụng và ép buộc người vay phải trả lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính từ việc cho vay.
  • Cho vay nặng lãi được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tinh vi khó phát hiện do không thông qua sự quản lý của các cơ quan chức năng như qua hình thức hụi, họ, biêu, phường,.. Đặc biệt là cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại, hoạt động cho vay nặng lãi tinh vi hơn thông qua các ứng dụng vay tiền trực tuyến (app vay tiền online như Vndong, Hitien, Zdong, Hvay). Việc vay tiền và cho vay tiền qua các ứng dụng này rất thuận lợi, người đi vay dễ dàng vay đượcc tiền mà không cần có thế chấp hay cầm cố tài sản thông qua vài thao tác cơ bản trên điện thoại, máy tính.
  • Trong một số trường hợp, bên vay tiền chấp nhận trả một mức lãi suất cao nên hành vi cho vay nặng lãi ít khi được phát hiện trong thời gian đầu. Chỉ đến khi số tiền vay đã lãi mẹ đẻ lãi con, lãi chồng lãi đến con số gấp nhiều lần khoản vay ban đầu và người vay lãi nặng không còn khả năng chi trả thì khi đó, hành vi cho vay nặng lãi mới được tố giác.
  • Trong một số trường hợp người vay trả nợ không đúng hạn hoặc không có khả năng trả nợ, người cho vay nặng lãi có thể dụng mọi thủ đoạn để siết nợ như hành hung, bắt cóc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, ném chất bẩn vào nhà người vay, đe dọa người thân, gia đình, bạn bè người vay nhằm tạo sức ép để người vay trả nợ.

Khi trở thành nạn nhân của cho vay nặng lãi, chúng ta cần phải tự bảo vệ bản thân bằng cách tố giác với cơ quan có thẩm quyền thông qua đơn tố cáo cho vay nặng lãi

Mọi người cũng xem: Lãi suất chậm trả: Hướng dẫn chi tiết để tránh công nợ đèn đỏ

2. Cho vay nặng lãi bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? 

 

Cho vay nặng lãi bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Cho vay nặng lãi bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Căn cứ theo Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định, hành vi cho vay nặng lãi với lãi suất 100%/năm trở lên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Một người cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nếu hành vi cho vay nặng lãi của người đó thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm này:

  • Về mặt khách quan: Người phạm tội đã thực hiện hành vi cho người khác vay tiền, vàng, các tài sản khác với lãi suất cao gấp 05 lần trở lên so với mức lãi suất cao nhất quy định trong bộ luật hình sự. Hành vi cho vay nặng lãi được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như giấy viết tay xác định vay nợ nhưng không đề cập cụ thể lãi suất và không công chứng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng mua bán tài sản có điều khoản nếu người đi vay không trả được tiền gốc và tiền lãi khi đến hạn thì phải làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất và bán tài sản cho người cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, hành vi này chỉ có thể cấu thành tội Cho vay lãi nặng nếu người thực hiện hành vi đó nhằm mục đích thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt trước đó về hành vi cho vay nặng lãi. Nếu chỉ tồn tại hành vi cho vay nặng lãi mà không có hành vi thu lợi bất chính hoặc đã xử phạt thì người cho vay nặng lãi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý hành chính.
  • Về mặt chủ quan: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng với lỗi cố ý. Người phạm tội biết rõ hành vi cho vay nặng lãi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ hành vi cho vay nặng lãi của mình sẽ khiến cho người đi vay phải trả một khoản lãi rất cao. Nhưng người phạm tội vì động cơ vụ lợi cá nhân mà mong muốn hậu quả xảy ra nên đã lợi dụng nhu cầu vay tiền của người khác để cho vay với lãi suất vượt quá nhiều lần quy định.
  • Về mặt khách thể: Hành vi cho vay nặng lãi đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng.
  • Về mặt chủ thể: Người cho vay nặng lãi phạm tội là những người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự, có khả nặng nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi do mình thực hiện và có thể tự quyết định việc thực hiện hay không thực hiện hành vi phạm tội. Thực tế cho thấy, người phạm tội cho vay nặng lãi thường là các đối tượng có tiền án, tiền sự hoặc các cá nhân, tổ chức núp bóng dưới hình thức các công ty tín dụng, công ty cho vay tài chính hoặc các cửa hàng cầm đồ để cho vay với lãi suất cao.

Mọi người cũng xem: Sự khác biệt giữa hành vi vi phạm hình sự và vi phạm hành chính

3. Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cho vay nặng lãi trong một số trường hợp cụ thể

  • Trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều lần hành vi cho vay nặng lãi, mỗi lần cho vay đều thu lời bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên thì và chưa từng bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từng lần phạm tội thì người phạm tội cho vay nặng lãi sẽ bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” nếu các hành vi phạm tội trước đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng, 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng và 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
  • Trường hợp người phạm tội cho vay nặng lãi nhiều lần với mức thu lợi bất chính ở từng lần cho vay nặng lãi dưới 30.000.000 đồng nhưng khi cộng dồn tất cả số tiền thu lợi bất chính ở từng lần được tổng số tiền thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên và chưa từng bị xử phạt hành chính thì người cho vay nặng lãi bị truy cứu trách nhiệm hình sự không áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”.
  • Trường hợp người phạm tội cho vay nặng lãi nhiều lần nhưng chỉ có một lần cho vay nặng lãi thu lời bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên, còn các lần cho vay nặng lãi còn lại thu lời bất chính dưới 30.000.000 đồng và chưa bị xử lý hành chính thì người phạm tội không bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”.
  • Trường hợp người cho vay nặng lãi vì nhằm mục đích đòi nợ mà thực hiện các hành vi khác gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác thì tùy vào mức độ gây thiệt hại của hành vi mà người phạm tội còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng bên cạnh bị truy tố về hành vi cho vay nặng lãi.
  • Trường hợp người phạm tội cho vay nặng lãi để thu lời bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên nhưng chưa được nhận khoản lợi bất chính hoặc nhận được khoản lợi bất chính ít hơn 30.000.000 đồng do nguyên nhân khách quan thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi trong trường hợp phạm tội chưa đạt.

4. Khung hình phạt áp dụng cho người phạm tội cho vay nặng lãi

 

Khung hình phạt áp dụng cho người phạm tội cho vay nặng lãi
Khung hình phạt áp dụng cho người phạm tội cho vay nặng lãi

4.1. Người cho vay nặng lãi bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt không cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội. Người phạm tội cho vay nặng lai sẽ chấp hành hình phạt tại nơi người phạm tội trước đó đang cư trú, sinh sống, làm việc và có sự giám sát của Ủy ban nhân dân xã, phường nơi người phạm tội cư trú, sinh sống làm việc.

Đối với mức hình phạt này, người cho vay nặng lãi đã thực hiện một trong những hành vi sau:

  • Người cho vay nặng lãi với mức lãi suất hơn 100%/năm và thu lời bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.

Căn cứ theo Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tội Cho vay lãi nặng, số tiền thu lời bất chính từ hành vi cho vay nặng lãi được xác định như sau:

    • Khoản tiền thu lời bất chính từ hành vi cho vay nặng lãi được xác định là số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định và các khoản thu trái pháp luật khác do người cho vay nặng lãi đặt ra (chi phí thu tiền, chi phí phạt chậm trả,…). Nếu khoản lợi bất chính là tài sản khác không phải là tiền thì được quy đổi thành tiền tại thời điểm vay tài sản.

Khoản thu lợi bất chính = [( Số tiền vay gốc x lãi suất cho vay nặng lãi x thời hạn cho vay nặng lãi) – ( khoản vay gốc x 20% x thời hạn cho vay nặng lãi (năm))] + khoản thu trái pháp luật khác

    • Trường hợp người phạm tội cho vay nặng lãi đối với nhiều người thì khoản tiền thu lợi bất chính là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả người vay nếu hành vi cho vay nặng lãi được thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.
    • Trường hợp người phạm tội cho vay nặng lãi nhằm mục đích thu lợi bất chính trên 30.000.000 đồng nhưng vì nguyên nhân khách quan mà chưa thu được khoản lợi bất chín hoặc thu được khoản lời bất chính ít hơn 30.000.000 đồng thì số tiền thu lời bất chính được xác định để truy cứu trách nhiệm hình sự là số tiền thu lời bất chính người phạm tội thực nhận.
    • Trường hợp cho vay nặng lãi chưa hết thời hạn vay mà bị phạt hiện thì khoản thu lời bất chính để truy cứu trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người đi vay đã trả cho người cho vay nặng lãi sau khi trừ đi số tiền lãi được tính với lãi suất hợp pháp tính đến thời điểm bị phát hiện và ngăn chặn.
    • Trường hợp người vay đã trả tiền lãi trước hạn và các khoản thu khác cho người phạm tội thì số tiền thu lời bất chính từ hành vi cho vay nặng lãi là tổng số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép và các khoản thu trái phép luật khác mà người vay đã thực trả.
  • Người phạm tội cho vay nặng lãi với lãi suất trên 100%/năm đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay nặng lãi hoặc đã bị kết án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Đây là trường hợp người phạm tội cho vay lãi nặng đã được pháp luật răn đe, đã được áp dụng các hình phạt nhưng người phạm tội không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội mà tiếp tục thực hiện hành vi cho vay nặng lãi. Do đó, khi người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự để tiếp tục răn đe, phòng ngừa.

Xem thêm bài viết: Xóa án tích và đương nhiên được xóa án tích trong pháp luật hình sự

4.2. Người cho vay nặng lãi bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Trường hợp người phạm tội cho vay nặng lãi thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Phạt tù là hình phạt cách ly người phạm tội cho vay nặng lãi ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định từ 06 tháng đến 03 năm.

Ngoài ra, người phạm tội cho vay nặng lãi còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng nếu người đó không bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền; bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nếu có căn cứ cho rằng người phạm tội sẽ tiếp tục thực hiện hành vi cho vay nặng lãi khi tiếp tục đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định. Thời gian cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề là từ 01 năm đến 05 năm tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu người đó bị áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tính từ thời điểm người cho vay nặng lãi chấp hành xong hình phạt tù.

Xem thêm bài viết: Phụ nữ có thai có được hoãn chấp hành án phạt tù hay không?

5. Xử lý các khoản tiền lãi và tiền gốc trong tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Đối với khoản tiền gốc và tiền lãi thu được từ hoạt động cho vay nặng lãi được xử lý như sau:
    • Số tiền vay gốc là phương tiện phạm tội, là đối tượng được người cho vay lãi nặng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên sẽ tịch thu sung công nhà nước. Nếu người đi vay chưa trả được khoản vay gốc thì người đi vay có trách nhiệm phải nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.
    • Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm (là số tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015) là số tiền phát sinh từ hành vi phạm tội cho vay lãi nặng mà có nên cũng bị xử lý tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • Đối với số tiền thu lợi bất chính từ hoạt động cho vay nặng lãi (số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép) là khoản tiền người phạm tội thu lợi bất chính của người đi vay nên số tiền này sẽ được trả lại cho người đi vay. Trường hợp người đi vay tiền sử dụng tiền vay được từ người cho vay nặng lãi vào mục đích bất hợp pháp (đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy, lừa đảo chiếm đoạt tài sản,….) thì khoản tiền này bị tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • Đối với các khoản tiền, tài sản mà người cho vay nặng lãi có được thông quá số tiền lãi và các khoản thu lời bất chính thì các khoản tiền, tài sản này cũng được tịch thu sung quỹ nhà nước.

6. Xử phạt hành chính đối với người thực hiện hành vi cho vay nặng lãi

 

Xử phạt hành chính đối với người thực hiện hành vi cho vay nặng lãi
Xử phạt hành chính đối với người thực hiện hành vi cho vay nặng lãi

Trường hợp người cho vay cho bên vay tiền với mức lãi suất từ 21% đến dưới 100%/năm thì người cho vay nặng lãi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý vi phạm hành chính.  Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, người cho vay nặng lãi bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu thực hiện một trong các hành vi dưới đây:

  • Người cho vay nặng lãi kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá 20%/năm nhưng dưới 100%/năm.
  • Người cho vay nặng lãi không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền có cầm cố tài sản hoặc không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay từ 21% đến dưới 100%.

Ngoài ra, người cho vay nặng lãi còn buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi cho vay nặng lãi hoặc buộc nộp lại giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự, chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ đối với người cho vay nặng lãi kinh doanh dịch vụ cầm đồ.

Có thể bạn quan tâm:

Như vậy, hành vi cho vay nặng lãi là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước trong các hoạt động tín dụng, ngân hàng. Ngoài ra, hành vi cho vay lãi nặng còn gián tiếp xâm phạm đến tài sản, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người khác. Nếu độc giả còn bất kỳ vấn đề nào cần giải đáp liên quan đến Cho vay nặng lãi bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? hoặc các vấn đề pháp lý khác, xin vui lòng liên hệ Luật Ánh Ngọc qua số điện thoại: 0878.548.558 , email: lienhe@luatanhngoc.vn hoặc gặp trực tiếp tại trụ sở chính của Công ty để được hỗ trợ, tư vấn đầy đủ và kịp thời.


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác