Đối mặt với tội danh biển thủ công quỹ: Trách nhiệm và hậu quả pháp lý


Đối mặt với tội danh biển thủ công quỹ: Trách nhiệm và hậu quả pháp lý

Biển thủ công quỹ là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản chung (Công quỹ là quỹ chung của Nhà nước hoặc của một tổ chức nhằm phục vụ cho nhiều hoạt động khác nhau) thành tài sản riêng của mình. Vậy trách nhiệm và hậu quả pháp lý phải chịu khi biển thủ công quỹ được pháp luật quy định như thế nào? Hãy cùng Luật Ánh Ngọc tìm hiểu thông qua tình huống pháp lý dưới đây nhé!

 

1. Tình huống pháp lý biển thủ công quỹ

Tình huống pháp lý:

Nguyễn Thị L sinh năm 1995. Năm 2005 được Ban quản trị Hợp tác xã M giao làm Thủ quỹ của Hợp tác xã; đến năm 2010 Hợp tác xã bầu lại Ban quản trị và Giám đốc Hợp tác xã M tiếp tục giao cho Nguyễn Thị L làm thủ quỹ của Hợp tác xã với nhiệm vụ quản lý tiền mặt thu được từ các khoản kinh doanh chính là: kinh doanh, quản lý chợ, cho thuê các điểm bán hàng, thu vé chợ, tiền gửi xe…

Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến ngày 2020, với nhiệm vụ được giao là thủ quỹ của Hợp tác xã M, do cần tiền để chi tiêu và sử dụng vào mục đích cá nhân, bà Nguyễn Thị L đã lợi dụng chức trách nhiệm vụ được giao đã nhiều lần thực hiện hành vi biển thủ công quỹ chiếm đoạt tiền quỹ của Hợp tác xã M với số tiền là 553.414.499 đồng. Để che dấu hành vi của mình tránh sự phát hiện của Hợp tác xã, Nguyễn Thị L đã dùng thủ đoạn viết ghi chép vào sổ quỹ và cập nhật đầy đủ các chứng từ thu, chi của Hợp tác xã trùng khớp đúng với sổ theo dõi của kế toán. Cụ thể như sau:

Lần  thứ nhất: Vào tháng 5 năm 2018 Nguyễn Thị L đã tự ý lấy 150.000.000đ từ quỹ Hợp tác xã M để chi tiêu, sử dụng vào mục đích cá nhân.

Lần  thứ hai: Tháng 7 năm 2018, Nguyễn Thị L đã tự ý lấy 100.000.000đ  từ quỹ Hợp tác xã M để chi tiêu, sử dụng vào mục đích cá nhân.

Lần  thứ ba: Tháng 6 năm 2020, Nguyễn Thị L đã tự ý lấy 200.000.000đ từ quỹ Hợp tác xã M để chi tiêu, sử dụng vào mục đích cá nhân.

Ngoài ra, Nguyễn Thị L còn nhiều lần tự ý lấy tổng số tiền là 103.414.499 đồng từ quỹ của Hợp tác xã do L trực tiếp quản lý để chi tiêu sử dụng cá nhân. Đến ngày 23/12/2020 Hợp tác xã M tiến hành kiểm quỹ tiền mặt do Nguyễn Thị L quản lý đã xác định số tiền bị thiếu hụt quỹ do L tự ý lấy tiền chi tiêu, sử dụng vào mục đích cá nhân là 553.414.499 đồng. Như vậy, Nguyễn Thị L đã tự ý nhiều lần lấy và chiếm đoạt tiền từ quỹ Hợp tác xã M tổng số tiền là 553.414.499 đồng để chi tiêu, sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

2. Dấu hiệu pháp lý

 

Tội tham ô tài sản
Tội tham ô tài sản

 

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi biển thủ công quỹ thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tham ô tài sản theo Điều 353 BLHS 2015.

- Khách thể: Quan hệ xã hội bị xâm phạm đó là hoạt động đúng đắn của tổ chức, của hợp tác xã, đồng thời xâm phạm vào sở hữu tài sản của hợp tác xã; làm ảnh hưởng đến quyền lợi của tổ chức, gây mất lòng tin đối với những thành viên trong tổ chức.

Đối tượng tác động của tội này là tài sản mà người có chức vụ, quyền hạn đang trực tiếp quản lý và thông qua việc tác động đến tài sản này mà người phạm tội mới có thể xâm phạm đến khách thể của tội phạm. Cụ thể là quỹ của hợp tác xã M mà bà L đang quản lý.

- Mặt khách quan: Tội này có cấu thành tội phạm vật chất nên mặt khách quan gồm hành vi khách quan và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra

+ Hành vi khách quan: Nguyễn Thị L đã có hành vi biển thủ công quỹ khi lợi dụng chức vụ, quyền hạn là thủ quỹ của hợp tác xã M chiếm đoạt tài sản mà bà L đang có nhiệm vụ quản lý.

Theo khoản 6 Điều 3 Nghị quyết 03/2020 thì “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là dựa vào chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái, không làm hoặc làm không đúng quy định của pháp luật”. Bà L đã sử dụng quyền hạn trong phạm vi công việc của mình làm trái với chức năng, nhiệm vụ công tác được giao. Đó là bà L có nhiệm vụ quản lý quỹ, thu chi cho hoạt động chung của hợp tác xã nhưng bà L lại lấy để chi tiêu và sử dụng vào mục đích cá nhân.

Lưu ý, hành vi chiếm đoạt tài sản phải có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội. Chức vụ, quyền hạn chính là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

+ Hậu quả: gây thất thoát 553.414.499 đồng của hợp tác xã M

- Chủ thể:

+ Người phạm tội là phải người có chức vụ. Cụ thể tại khoản 2 Điều 352 BLHS 2015 quy định như sau: “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. BLHS quy định không chỉ là người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước, tổ chức xã hội mà còn là người có chức vụ quyền hạn ngoài nhà nước.

+ Độ tuổinăng lực TNHS

Tóm lại, bà L là người có chức vụ trong tổ chức hợp tác xã M và đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực TNHS và có trách nhiệm quản lý đối với tài sản mà bà L đã chiếm đoạt

- Mặt chủ quan:

+ Nguyễn Thị L thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra.

Bà L ngay từ khi nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đã nhận thức rõ ràng, những thiệt hại về tài sản, đồng thời với cương vị là thủ quỹ bà L hoàn toàn có đủ khả năng để hiểu rằng bà đang trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của tổ chức, của hợp tác xã.

Mặc dù nhận thức đầy đủ nhưng Nguyễn Thị L vẫn cố tình thực hiện cho bằng được hành vi biển thủ công quỹ nhằm mục đích chiếm đoạt thể hiện bằng những thủ đoạn gian dối. Cụ thể, để che dấu hành vi của mình tránh sự phát hiện của Hợp tác xã, Nguyễn Thị L đã dùng thủ đoạn viết ghi chép vào sổ quỹ và cập nhật đầy đủ các chứng từ thu, chi của Hợp tác xã trùng khớp đúng với sổ theo dõi của kế toán.

+ Động cơ phạm tội: vì mục đích vụ lợi. Mong muốn biến tài sản bản thân có trách nhiệm quản lý thành tài sản riêng để thỏa mãn như cầu vật chất. Bà L do cần tiền để chi tiêu và sử dụng vào mục đích cá nhân, đã lợi dụng chức trách nhiệm vụ được giao nên đã nhiều lần chiếm đoạt tiền quỹ của Hợp tác xã M.

Như vậy, hành vi của bà L đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 BLHS 2015.

Xem thêm bài viết tại: Nhận hối lộ bị xử phạt như thế nào? Nhận bao nhiêu thì bị tử hình?

3. Trách nhiệm và hậu quả pháp lý khi biển thủ công quỹ

 

Truy cứu trách nhiệm khi biển thủ công quỹ
Truy cứu trách nhiệm khi biển thủ công quỹ

 

Với tội danh Tham ô tài sản khi thực hiện hành vi biển thủ công quỹ

- Khoản 1 Điều 353 BLHS 2015 quy định cấu thành tội phạm cơ bản của tội tham ô tài sản: Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
  • Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

- Tình tiết định khung tăng nặng:

  • Có tổ chức: là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
  • Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm: có thể hiểu là người phạm tội có những thủ đoạn, mánh khóe, cách thức xảo quyệt thâm hiểm làm cho cơ quan, tổ chức, người quản lý tài sản khó phòng bị để che dấu hành vi tham ô tài sản.
  • Phạm tội 02 lần trở lên: là trường hợp có từ 2 lần tham ô tài sản trở lên, mỗi lần tham ô đều đã cấu thành tội phạm và nay được đem ra xét xử cùng lúc.
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng: nghĩa là khi tài sản bị chiếm đoạt không phải là tiền mà là tài sản thì giá trị tài sản được xác định căn cứ vào giá thị trường do cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác định
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
  • Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn: nghĩa là người phạm tội tham ô tài sản là tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước; gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của những đối tượng cần được quan tâm, hỗ trợ
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng: tức là người phạm tội ngoài thỏa mãn 1 trong 3 dấu hiệu tại khoản 1 Điều 353 BLHS thì người phạm tội tham ô còn gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
  • Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
  • Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.

- BLHS quy định có 5 khung hình phạt, trong đó 4 hình phạt chính và 1 hình phạt bổ sung

+ Hình phạt chính: Theo quy định của BLHS 2015 thì tội tham ô tài sản có mức hình phạt thấp nhất là 2 năm tù và cao nhất là tử hình. Cụ thể:

  • Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp luật định, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
  • Phạm tội thuộc một trong các trường hợp luật định, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
  • Phạm tội thuộc một trong các trường hợp luật định, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
  • Phạm tội thuộc một trong các trường hợp luật định, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

+ Hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 353 BLHS quy định thì người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Căn cứ vào tình huống pháp lý trên, thì bà L sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại điểm a khoản 3 Điều 353 BLHS 2015 khi "Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng" bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.

Xem thêm bài viết tại: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu theo quy định

Trên đây là phân tích của Công ty Luật Ánh Ngọc về tình huống pháp lý khi Đối mặt với tội danh biển thủ công quỹ: Trách nhiệm và hậu quả pháp lý. Quý khách hàng có thắc mắc hay cần hỗ trợ hãy liên hệ tới số điện thoại 0878.548.558 hoặc lienhe@luatanhngoc.vn của chúng tôi để nhận hỗ trợ nhanh nhất nhé!

 

 

 

 


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác