Tội giả mạo chữ ký nhằm chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào?


Tội giả mạo chữ ký nhằm chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào?

Giả mạo chữ ký là hành vi cố tình sao chép, mô phỏng lại chữ ký của người khác nhằm thực hiện mục đích cụ thể. Như vậy, khi nào giả mạo chữ ký được xem là hành vi vi phạm pháp luật và giả mạo chữ ký nhằm chiếm đoạt tài sản được pháp luật quy định như thế nào? Hãy cùng Luật Ánh Ngọc tìm hiểu thông qua tình huống pháp lý dưới đây để hiểu rõ hơn nhé! 

 

Tình huống pháp lý:

Ông A là cán bộ công tác tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M. Tháng 7/2016, ông A được bổ nhiệm làm Phó Giám Đốc, Giám đốc chi nhánh – Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện M. Nhiệm vụ của ông A được giao là phụ trách trong 2 giai đoạn là đo đạc bản đồ, trích đo hồ sơ địa chính thửa đất; thống kế, kiểm kê đất đai; chỉnh lý biến động đất đai và tiếp nhận, quản lý Giấy chứng nhận QSDĐ do Phòng Tài nguyên và Môi trường giao để thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho người dân.

Trong quá trình công tác, ông A đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn; lợi dụng việc được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, sử dụng phôi Giấy chứng nhận QSDĐ đã không thực hiện việc đăng ký đất đai, hồ sơ địa chính theo trình tự, thủ tục về việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mà tự ý cập nhật thông tin của người thân quen, thông tin về thửa đất vào phôi Giấy chứng nhận QSDĐ rồi tự ý ký giả chữ ký của ông Y (Phó Giám Đốc – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M), tự ý xác nhận nội dung chuyển nhượng khi không có chuyển nhượng, sau đó mang Giấy chứng nhận QSDĐ giả mạo đi đóng dấu rồi giao cho người dân.

Cụ thể, vào năm 2019 mặc dù những người được cấp các Giấy chứng nhận QSDĐ số AĐ 985328, X 505761 không chuyển nhượng QSDĐ, nhưng ông A đã đưa ra thông tin gian dối là những người này có nhờ ông A chuyển nhượng đất, làm chị H tin tưởng và giao dịch nhận chuyển nhượng đất với A để A chiếm đoạt của chị H số tiền 120.000.000 đồng.

Qua tình huống pháp lý trên, Công ty Luật Ánh Ngọc kết luận ông A phạm 2 tội là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Tội giả mạo trong công tác. Vì sao lại phạm 2 tội như vậy? Chúng tôi lý giải như sau:

1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS 2015)

1.1. Đặc điểm của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Thứ nhất, hành vi của người phạm tội là làm cho chủ sở hữu tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản

Thứ hai, tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt phải đang có người quản lý

Thứ ba, người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra với mục đích là chiếm đoạt tài sản

1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

 

dấu hiệu pháp lý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Dấu hiệu pháp lý Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

 

- Khách thể của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung là xâm phạm quyền sở hữu tài sản, cụ thể là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu. 

Đối tượng tác động là tài sản (vật, tiền) - số tiền 120.000.000 đồng của chị H

Theo quy định tại Điều 174 BLHS 2015, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội phạm khi người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp luật quy định thì chịu trách nhiệm hình sự với những mức phạt khác nhau. Tình huống trên, ông A có hành vi “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, cụ thể là 120.000.000 đồng chiếm đoạt được từ chị H theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS 2015.

Lưu ý, nếu tài sản bị tác động không đủ định lượng và cũng không thuộc trường hợp luật định thì người thực hiện hành vi này không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Mặt khách quan gồm có 2 hành vi đó là hành vi lừa dối (thủ đoạn gian dối) và hành vi chiếm đoạt tài sản. Hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hành vi dùng thủ đoạn gian dối là tiền đề cho hành vi chiếm đoạt tài sản

+ Thủ đoạn gian dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật. Cụ thể, là hành vi đưa ra những thông tin giả, người phạm tội biết thông tin là giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật. Thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, người phạm tội sử dụng nhiều cách thức khác nhau như bằng lời nói, giả mạo giấy tờ, giả mạo chữ ký, giả danh tổ chức, hình ảnh…làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản tin tưởng, từ đó tự nguyện chuyển giao tài sản cho người phạm tội

=> Ông A đã đưa ra thông tin gian dối là những người này có nhờ ông A chuyển nhượng đất, làm chị H tin tưởng và giao dịch nhận chuyển nhượng đất với cho ông A

Cần lưu ý thời điểm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản luôn xảy ra trước thời điểm có việc giao nhận tài sản giữa người bị hại và người phạm tội. Nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy trường hợp có thể phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản,..

+ Hành vi chiếm đoạt tài sản: Người phạm tội thực hiện hành vi gian dối với mục đích làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đó tin là sự thật mà giao tài sản cho người phạm tội. Sau đó, người phạm tội sẽ chuyển dịch tài sản của người đó thành tài sản của mình 1 cách trái pháp luật. Dấu hiệu bắt buộc là phải có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản. Bởi, nếu có hành vi gian dối mà không chiếm đoạt tài sản mà chỉ nhằm sử dụng tài sản thì tùy trường hợp có thể truy cứu TNHS về tội sử dụng trái phép tài sản,…Và hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có định lượng từ 2.000.000 đồng trở lên trong trường hợp thông thường hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng phải thuộc trường hợp luật định.

=> Ông A đã đưa ra thông tin gian dối là những người này có nhờ ông A chuyển nhượng đất, làm chị H tin tưởng và giao dịch nhận chuyển nhượng đất với A để A chiếm đoạt của chị H số tiền 120.000.000 đồng. Với giá trị thiệt hại là 120.000.000 đồng đã đáp ứng điều kiện về định lượng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS 2015.

- Chủ thể: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có chủ thể thường. Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này. Ông A có đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và có khả năng điều khiển hành vi của mình.

- Mặt chủ quan: Ông A thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra với mục đích là chiếm đoạt tài sản.

Tóm lại, Ông A có hành vi đưa ra thông tin gian dối là những người này có nhờ A chuyển nhượng đất khiến cho chị H tin tưởng và giao dịch nhận chuyển nhượng đất với A để A chiếm đoạt tài sản của chị H với số tiền 120.000.000 đồng. Hành vi của A đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS 2015.

Xem thêm bài viết tại: Lấy lại tiền bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng công nghệ cao thế nào?

2. Tội giả mạo trong công tác (Điều 359 BLHS 2015)

2.1. Đặc điểm của tội Giả mạo trong công tác

Thứ nhất, về chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; để làm, cấp giấy tờ giả hoặc để giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn khác. Hành vi phạm tội phải là hành vi phạm tội thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của người phạm tội.

Thứ hai, về lỗi thực hiện hành vi với lỗi cố ý, tức là họ nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nhưng vẫn có ý thức nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra.

Thứ ba, về động cơ vì vụ lợi. Trong đó, vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng.

2.2. Dấu hiệu pháp lý của tội Giả mạo trong công tác

 

Dấu hiệu pháp lý tội giả mạo trong công tác
Dấu hiệu pháp lý tội giả mạo trong công tác

 

- Khách thể của tội Giả mạo trong công tác đó là xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín.

Đối tượng tác động: chữ ký của ông Y (Phó Giám Đốc – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M)

- Mặt khách quan:

Hành vi khách quan: ông A đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn đó là ông Y (Phó Giám Đốc – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M)

Cần lưu ý, chức vụ, quyền hạn chính là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc giả mạo; nếu không có chức vụ, quyền hạn thì họ không thực hiện được hành vi phạm tội. Trong tình huống trên, nếu ông A không phải là Phó Giám Đốc, Giám đốc chi nhánh – Văn phòng đăng ký QSDĐ huyện M, không có thẩm quyền thì A không thực hiện được việc giả mạo chữ ký gạt lòng tin chị H để chị H giao dịch nhận chuyển nhượng đất với A.

- Chủ thể: Phải là người có chức vụ, quyền hạn. Cần lưu ý, người phạm tội giả mạo công tác phải là người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình để để giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn khác.

Cụ thể, ông A là Phó Giám Đốc, Giám đốc chi nhánh – Văn phòng đăng ký QSDĐ được giao nhiệm vụ là phụ trách trong 2 giai đoạn là đo đạc bản đồ, trích đo hồ sơ địa chính thửa đất; thống kế, kiểm kê đất đai; chỉnh lý biến động đất đai và tiếp nhận, quản lý Giấy CNQSD đất do Phòng Tài nguyên và Môi trường giao để thực hiện việc cấp Giấy CNQSĐ đất. Từ đó, ông A đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong phạm vi quyền hạn, chức vụ của mình để giả chữ ký của Phó Giám Đốc – Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M

- Mặt chủ quan: Ông A thực hiện hành vi phạm tội cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra

Động cơ phạm tội (dấu hiệu bắt buộc): vì mục đích vụ lợi, tức là ông A đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để đạt được lợi ích vật chất đó là chiếm đoạt tài sản của chị H.

Tóm lại, ông A biết rõ giả mạo chữ ký trong công tác là vi phạm pháp luật, sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Nhưng vì vụ lợi ông A đã giả mạo chữ ký trong công tác nhằm thu lợi bất chính số tiền 120.000.000 đồng. Nên hành vi giả mạo chữ ký của ông A đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Giả mạo trong công tác” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 359 BLHS 2015.

Xem thêm bài viết tại: Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự: Những điều cần biết

3. Pháp luật quy định như thế nào về tội giả mạo chữ ký nhằm chiếm đoạt tài sản?

 

pháp luật quy định như thế nào về tội giả chữ ký chiếm đoạt tài sản?
Pháp luật quy định như thế nào về tội giả chữ ký chiếm đoạt tài sản?

 

3.1. Giả mạo chữ ký nhằm chiếm đoạt tài sản chịu trách nhiệm hình sự với tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Tình tiết định khung tăng nặng

Điều 174 BLHS 2015 quy định các tình tiết định khung tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm:

  • Có tổ chức: Là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
  • Có tính chất chuyên nghiệp.
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
  • Tái phạm nguy hiểm: Là trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: nghĩa là người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản dựa trên chức vụ, quyền hạn của người phạm tội là người khác tin tưởng rồi giao tài sản cho người phạm tội.
  • Dùng thủ đoạn xảo quyệt: có thể hiểu là người phạm tội sử dụng thủ đoạn dối trá một cách tinh vi, sử dụng công nghệ cao thực hiện hành vi phạm tội, che giấu tội phạm, đổ tội cho người khác hoặc gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm.
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
  • Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh: là những hiện tượng đặc biệt khó khăn của xã hội và người phạm tội đã lợi dụng hiện tượng đó để phạm tội.
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
  • Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

- Hình phạt: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 BLHS 2015 quy định bao gồm 5 khung hình phạt, trong đó 4 hình phạt chính và 1 hình phạt bổ sung.

* Bốn hình phạt chính:

Quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm và hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm: áp dụng cho người phạm tội ở khung cơ bản, không có tình tiết định khung tăng nặng TNHS.

Quy định hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm

Quy định hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm

Quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm và tù chung thân

* Một hình phạt bổ sung:

Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Với tình huống pháp lý trên, ông A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS 2015 "Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng" thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

Khi trở thành nạn nhân của những đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng ta cần thực hiện thủ tục tố giác lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhanh chóng để cơ quan điều tra sớm bắt được đối tượng lừa đảo. 

3.2. Giả mạo chữ ký để chiếm đoạt tài sản chịu trách nhiệm hình sự với tội danh Giả mạo trong công tác

- Tình tiết định khung tăng nặng:

  • Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu: là hành vi tẩy xóa, thêm bớt hoặc thủ đoạn khác để sửa chữa, làm sai lệch bản chất ban đầu của nội dung giấy tờ, tài liệu vốn có.
  • Làm, cấp giấy tờ giả: là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm giả giấy tờ.
  • Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn: là hành vi người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để giả mạo chữ ký của người khác (người khác ở đây là người có chức vụ, quyền hạn).
  • Có tổ chức: Là có sự kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Đây là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển của người đứng đầu.
  • Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu.
  • Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 02 giấy tờ giả đến 05 giấy tờ giả.
  • Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 06 giấy tờ giả  đến 10 giấy tờ giả.
  • Để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
  • Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng 11 giấy tờ giả trở lên.
  • Để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

- Hình phạt: BLHS quy định Giả mạo trong công tác bao gồm 5 khung hình phạt, trong đó 4 hình phạt chính và 1 hình phạt bổ sung.

* Hình phạt chính:

Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Quy định hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm

Quy định hình phạt phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

Quy định hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm

* Hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Căn cứ tình huống pháp lý trên thì ông A phạm tội tại điểm c khoản 1 Điều 359 BLHS 2015 "Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn" thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

Trên đây là câu trả lời của Công ty Luật Ánh Ngọc cho Tội giả mạo chữ ký nhằm chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào? Quý khách hàng có thắc mắc hay cần tư vấn thì hãy liên hệ Công ty Luật Ánh Ngọc để nhận hỗ trợ nhé!

 

 


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác