Hậu quả pháp lý của người phạm tội do dùng rượu, bia


Hậu quả pháp lý của người phạm tội do dùng rượu, bia

Trong xã hội ngày nay, vấn nạn sử dụng rượu bia dẫn đến vi phạm pháp luật diễn ra ngày càng phổ biến. Rượu, bia đều là những đồ uống thường được xuất hiện chủ yếu trên những bàn tiệc, các cuộc hội ngộ, gặp mặt hay những cuộc nhậu của con người. Tuy nhiên, bên cạnh những người sử dụng rượu, bia một cách có kiểm soát, có chừng mực và sử dụng đúng mục đích là để vui, ăn mừng,… thì còn có rất nhiều người sử dụng bia, rượu một cách bừa bãi, quá đà, không có kiểm soát dẫn đến không còn khả năng nhận thức, điều khiển hành vi từ đó làm ra những hành vi vi phạm pháp luật mà hậu quả nặng nhất chính là gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Thực tiễn đã có vô cùng nhiều trường hợp sử dụng rượu, bia và gây ra những tội ác giết người rất đau lòng. Vậy người có hành vi phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý như thế nào?

1. Phạm tội là gì?

Theo nghĩa thông thường trong từ điển tiếng Việt, phạm tội có nghĩa là việc một người có hành vi và cách ứng xử, xử sự trái với pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội.

Còn trong lĩnh vực pháp lý, phạm tội là hành động thực hiện tội phạm. Ở đây, khái niệm tội phạm đã được khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,…Như vậy, nếu một người thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật hình sự quy định sẽ được coi là phạm tội.

Tuy nhiên, việc phạm tội của một người phải trải qua quá trình xem xét, điều tra, truy tố, xét xử thì mới xác định được hành vi phạm tội của người đó có phải là tội phạm hay không. Bởi không phải bất kì ai thực hiện hành vi phạm tội thì họ cũng đều bị coi là tội phạm (ví dụ như: người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ khi thực hiện hành vi phạm tội thì là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự; còn người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi phạm tội thì không được coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự).

2. Phạm tội do dùng rượu, bia là gì?

 

Phạm tội do dùng rượu, bia là gì?
Phạm tội do dùng rượu, bia là gì?

 

Từ khái niệm phạm tội đã được phân tích ở trên, có thể rút ra được khái niệm phạm tội do dùng rượu, bia là việc một người uống rượu, bia đạt đến mức độ mà bản thân họ không còn có thể kiểm soát được hành động của mình, rơi vào trạng thái mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi dẫn đến việc làm, thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự.

3. Hậu quả pháp lý của người phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia

3.1. Phạm tội do dùng rượu, bia có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

 

Phạm tội do dùng rượu, bia có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Phạm tội do dùng rượu, bia có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

 

Để trả lời câu hỏi này thì chúng ta cần căn cứ vào Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 2015 về “phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác”. Theo  đó, điều luật này quy định rằng người nào phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, nếu một người phạm tội do dùng rượu, bia thì họ vẫn hoàn toàn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy rằng việc Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự cho đối tượng phạm tội do dùng rượu, bia là một điều vô cùng đúng đắn và hợp lý. Bởi rượu, bia là đồ uống chứa cồn, chất gây nghiện mà khi sử dụng không hợp lý, quá nhiều thì con người sẽ không kiểm soát được hành vi của bản thân mình, không còn giữ được sự tỉnh táo dẫn đến thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây rối loạn trật tự công cộng và gây nên nhiều hậu quả nghiêm trọng khác như làm chết người, gây thương tích cho nhiều người,…Vậy nên pháp luật hình sự quy định trách nhiệm hình sự cho đối tượng phạm tội do dùng rượu, bia để tăng tính chất răn đe cho cộng đồng xã hội trong việc sử dụng rượu, bia, nhằm hạn chế sử dụng rượu, bia quá nhiều của người dân dẫn đến những hậu quả đáng tiếc và họ phải bị xử lý, phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đồng thời, nếu như pháp luật hình sự không quy định trách nhiệm hình sự cho người phạm tội do dùng rượu, bia thì sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy vô cùng nguy hiểm như nhiều người sẽ lợi dụng việc sử dụng rượu, bia để tự do thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không phải chịu trách nhiệm hình sự, từ đó trật tự, an toàn xã hội không được bảo đảm và bảo vệ, người dân hoang mang, ngày càng xuất hiện nhiều hành vi gây rối trật tự công cộng, làm chết người, cố ý gây thương tích do tác hại của rượu, bia từ người sử dụng,...

Hơn nữa, có thể thấy rằng một người phạm tội do dùng rượu, bia thì trước khi sử dụng rượu, bia dẫn đến hành vi phạm tội, họ hoàn toàn có đầy đủ sự tỉnh táo và nhận thức được rằng việc sử dụng rượu, bia có thể khiến họ rơi vào trạng thái mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình nhưng họ vẫn lựa chọn sử dụng dẫn đến việc vi phạm pháp luật hình sự. Như vậy, khi họ đã lựa chọn sử dụng rượu, bia thì tức là chính họ đã chủ động lựa chọn tước bỏ đi năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi bình thường của mình và gây ra hành vi phạm tội, đây được coi là lỗi chủ quan do họ. Vì vậy mà người phạm tội do dùng rượu, bia phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi uống rượu, bia và gây ra tội phạm của mình.

3.2. Người phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia bị xử lý như thế nào?

 

Người phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia bị xử lý như thế nào?
Người phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia bị xử lý như thế nào?

 

Như đã phân tích ở trên, người phạm tội do dùng rượu, bia sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Cho nên đối với người phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia thì chắc chắn sẽ phải bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ở đây, trong Bộ luật Hình sự năm 2015 không có quy định cụ thể nào về tội phạm giết người do sử dụng rượu, bia. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 13 và Điều 123 của Bộ luật này thì có thể khẳng định người phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia, tùy vào từng trường hợp phạm tội cụ thể của họ, tính chất, hành vi, các tình tiết khác,… trong việc phạm tội mà họ sẽ bị xử phạt theo các trường hợp của tội giết người quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Có thể thấy rằng tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 với 04 khung hình phạt, trong đó có 02 khung hình phạt chính, 01 khung hình phạt bổ sung và cuối cùng là 01 khung hình phạt cho chuẩn bị phạm tội, cụ thể là như sau:

Thứ nhất, khung hình phạt cơ bản được quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Đây là khung hình phạt được áp dụng khi người phạm tội giết người không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (khung tăng nặng).

Thứ hai, khung hình phạt tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Và các trường hợp phạm tội thuộc khung hình phạt này là:

+ Giết 02 người trở lên: đây là trường hợp giết người mà số lượng nạn nhân là nhiều người, cụ thể là từ 02 người trở lên và không phụ thuộc vào việc chủ thể có một hay nhiều hành vi giết người khác nhau

+ Giết người dưới 16 tuổi: đây là trường hợp giết người mà nạn nhân là người dưới 16 tuổi, thuộc đối tượng trẻ em được Luật trẻ em quy định và là đối tượng cần được xã hội dành sự quan tâm, bảo vệ đặc biệt

+ Giết phụ nữ mà biết là có thai: Đây là trường hợp giết người mà nạn nhân là người đang mang thai, đồng thời khi thực hiện hành vi giết người thì chủ thể thực hiện tội phạm cũng nhận thức rõ được điều này. Giết phụ nữ mà biết là người đó đang mang thai cũng được coi là trường hợp giết người tăng nặng trách nhiệm hình sự bởi vì hành vi giết người này xâm phạm đến đối tượng cần được xã hội quan tâm, bảo vệ đặc biệt. Hơn nữa, việc giết phụ nữ mà biết họ đang có thai thể hiện sự vô lương tâm và vô nhân đạo sâu sắc, khác rất nhiều so với trường hợp giết người thông thường đó là việc giết phụ nữ có thai xâm phạm đến tính mạng của cả người mẹ và sự sống trong tương lai của người con ở trong bụng người mẹ

+ Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lí do công vụ của nạn nhân:

Trước hết, công vụ được hiểu là hoạt động theo đúng pháp luật của chủ thể được cơ quan nhà nước giao nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lí nhà nước bao gồm quản lí hành chính, tố tụng và thi hành án. Ví dụ: Công an giữ trật tự an toàn công cộng; Cảnh sát giao thông giữ trật tự an toàn giao thông

Giết người đang thi hành công vụ là trường hợp giết người mà nạn nhân là người đang thi hành công vụ

Còn giết người vì lý do công vụ của nạn nhân là trường hợp giết người mà mục đích, động cơ của việc giết người gắn liền với việc thi hành công vụ của nạn nhân. Ví dụ: giết người thi hành công vụ để không cho người đó thi hành công vụ; giết người thi hành công vụ để trả thù việc người đó đã thi hành công vụ

Việc giết người đang thi hành công vụ hoặc giết người vì lí do công vụ của nạn nhân là rất nguy hiểm, nó không chỉ xâm phạm đến tính mạng con người mà nó còn xâm phạm an ninh, trật tự công cộng nghiêm trọng, cản trở những hoạt động chung của xã hội và gây ra nhiều ảnh hưởng cũng như hệ lụy xấu sau này trong việc giữ gìn, bảo vệ trật tự, trị an của xã hội, đất nước

+ Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình: đây là trường hợp giết người mà nạn nhân là người có mối liên hệ, quan hệ đặc biệt đối với người phạm tội giết người. Có thể thấy rằng trong mối quan hệ đặc biệt đó thì người phạm tội phải có lòng tôn kính, biết ơn sâu sắc đối với nạn nhân nhưng thay vì hành xử như vậy thì người phạm tội lại thực hiện hành vi giết nạn nhân. Chính vì vậy, hành vi giết người trong trường hợp này là vô cùng nguy hiểm và đáng bị lên án, phê phán mạnh mẽ. Hành vi phạm tội này không chỉ là giết người, vi phạm pháp luật hình sự mà còn vi phạm nghiêm trọng đạo đức, đạo lý làm người của người phạm tội

+ Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: đây là trường hợp giết người mà liền trước hoặc ngay sau hành vi giết người, người phạm tội đã phạm thêm một hoặc nhiều tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác. Có thể thấy việc phạm tội liên tiếp, liên tục và nhiều lần như vậy thể hiện rằng người phạm tội có chủ đích, ý thức thực hiện hành vi phạm tội rất rõ ràng. Điều này khẳng định tính chất nguy hiểm rất lớn của hành vi giết người, đồng thời cũng được xem xét như một căn cứ rõ ràng để đánh giá, phản ánh được khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội giết người

+ Giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác: đây là trường hợp giết người mà mục đích, động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi giết người là để thực hiện tội phạm khác hoặc để che giấu tội phạm khác. Ví dụ: muốn giết người nhưng bị can ngăn thì lại giết luôn cả người can ngăn; muốn che giấu thông tin, bí mật về việc nhận hối lộ nên giết người đã chứng kiến việc nhận hối lộ

“Tội phạm khác” mà người giết người muốn che giấu hoặc muốn thực hiện có thể là tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Những tội này có thể do người giết người tự mình thực hiện hoặc cùng những người đồng phạm khác thực hiện

+ Giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân: đây là trường hợp giết người mà mục đích, động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi giết người là để chiếm đoạt, lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân nhằm sử dụng cho mình, cho những người thân thích của mình hoặc để nhằm trục lợi thông qua việc trao đổi, buôn bán bộ phận cơ thể nạn nhân. Có thể thấy động cơ phạm tội trong trường hợp này được coi là động cơ đê hèn, vì sự ích kỉ cá nhân mà sẵn sàng có thể tước đoạt đi tính mạng người khác để đạt được mục đích của mình

+ Thực hiện tội phạm một cách man rợ: đây là trường hợp giết người mà hành vi phạm tội được thực hiện một cách vô cùng tàn ác, kinh khủng và dã man, khiến nạn nhân trước khi chết phải trải qua nhiều cảm giác đau đớn đạt đến tột độ. Người phạm tội có thể thực hiện hành vi giết người bằng cách hành hạ, tra tấn cho đến khi nạn nhân chết hoặc chặt, chém rời các bộ phận cơ thể của nạn nhân, làm cho người khác cảm thấy ghê rợn…

+ Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp: đây là trường hợp giết người mà người phạm tội đã lợi dụng nghề nghiệp của mình để thực hiện hành vi giết người hoặc che giấu hành vi giết người một cách dễ dàng. Ví dụ: bác sĩ lợi dụng nghề nghiệp để thực hiện việc giết bệnh nhân từng là kẻ thù của mình

+ Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người: đây là trường hợp giết người mà người phạm tội đã sử dụng phương pháp giết người có khả năng gây ra cái chết cho nhiều người như sử dụng phương tiện, công cụ, thủ đoạn (súng, thuốc nổ, bỏ thuốc độc vào đồ ăn chung của nhiều người,…). Trường hợp này chỉ cần phương tiện, công cụ, thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng trong điều kiện cụ thể có khả năng, nguy cơ làm nhiều người chết chứ không thực sự đòi hỏi việc sử dụng phương tiện, công cụ, thủ đoạn đó đã gây ra hậu quả khiến nhiều người chết hay chưa

+ Thuê giết người hoặc giết người thuê:

Trước hết, thuê giết người là trường hợp người phạm tội sử dụng tiền bạc, lợi ích vật chất để sai khiến, yêu cầu người khác thực hiện việc giết người theo ý mình muốn, biến người khác trở thành “con rối”, “công cụ” giết người dưới trướng mình

Còn giết người thuê là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi giết người cho người thuê mình vì mục đích kiếm tiền hoặc để được hưởng những lợi ích vật chất khác. Trường hợp này cũng được xem như một dạng của động cơ đê hèn

+ Giết người có tính chất côn đồ: đây là trường hợp giết người mà người phạm tội trong mọi tình tiết đều thể hiện sự hung hăng, hung hãn tột độ, coi thường tính mạng của người khác quá mức và sẵn sàng giết, tước đoạt tính mạng của người khác một cách dễ dàng, vì lí do nhỏ nhặt, vô cớ mà không suy nghĩ

+ Giết người có tổ chức: đây là trường hợp giết người có nhiều chủ thể và họ cùng là đồng phạm với nhau trong việc thực hiện hành vi giết người. Đồng thời, những người này có sự liên kết, câu kết chặt chẽ với nhau để thực hiện tội phạm

+ Tái phạm nguy hiểm: đây là trường hợp giết người mà hành vi giết người đáp ứng các điều kiện về tái phạm nguy hiểm quy định tại khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015

+ Giết người vì động cơ đê hèn: đây là trường hợp giết người mà mục đích, động cơ phạm tội có tính chất làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi giết người lên một cách rõ rệt so với các trường hợp bình thường khác. Từ thực tiễn xét xử có thể thấy những động cơ phạm tội bị coi là động cơ đê hèn là: giết vợ, chồng của mình để chung sống, kết hôn với người vợ, chồng khác; giết người để tranh giành quyền lợi; giết người có tính chất bội bạc;…

Thứ ba, khung hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó, người phạm tội giết người còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Thứ tư, khung hình phạt dành cho chuẩn bị phạm tội giết người được quy định tại khoản 3 Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, đối tượng chuẩn bị phạm tội này sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, người phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia có thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý như đã phân tích ở trên khi phạm tội.

Có thể bạn quan tâm:

Bài viết trên đây đã làm rõ vấn đề hậu quả pháp lý của người phạm tội giết người do sử dụng rượu, bia. Bạn đọc còn vướng mắc về vấn đề liên quan hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp nhanh chóng:

 


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác