Thời hạn là gì? Thời hiệu là gì? So sánh thời hạn và thời hiệu


Thời hạn là gì? Thời hiệu là gì? So sánh thời hạn và thời hiệu
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường bắt gặp những câu hỏi về khái niệm trừu tượng, chung chung như “thời hạn là gì?”, “thời hiệu là gì?”. Và đôi khi chúng ta cũng không thể giải thích được rõ ràng, cụ thể những câu hỏi này bởi vì “thời hạn” hay “thời hiệu” vốn là những từ ngữ có ý nghĩa gần giống nhau, tương tự nhau cho nên có thể dễ dàng gây nhầm lẫn. Vậy thời hạn và thời hiệu có nghĩa là gì, thời hạn và thời hiệu khác nhau ở những điểm nào, bài viết dưới đây sẽ so sánh hai khái niệm này cũng như cung cấp cho bạn đọc những thông tin pháp lý quan trọng về vấn đề này.

1. Thời hạn là gì?

 

Thời hạn là gì?

Thời hạn là gì?

1.1. Khái niệm thời hạn

Theo khoản 1 Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hạn được hiểu là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Có thể thấy rằng khái niệm về thời hạn là một khái niệm nhỏ hơn khái niệm thời gian. Bởi thời gian là một dòng chảy xuyên suốt, không có điểm bắt đầu và cũng không có điểm kết thúc. Còn thời hạn là một khoảng thời gian nằm trong dòng chảy đó và có điểm đầu, điểm cuối xác định. Như vậy, thời hạn vừa có tính chất khách quan của thời gian nhưng đồng thời cũng vừa có tính chất chủ quan của chủ thể ấn định điểm đầu và điểm cuối cho thời hạn.

Tiếp đó, theo khoản 2 Điều 144 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hạn sẽ được xác định bằng: phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra. Ngoài ra trên thực tế cuộc sống, đặc biệt là trong đời sống sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp của người dân, do ảnh hưởng từ tập quán ngành nghề sản xuất nên thời hạn đối với lĩnh vực này còn có thể tính theo vụ, theo mùa và chu kỳ nhất định để phù hợp với điều kiện, thực tế cũng như hiệu quả sản suất nhằm thu được lượng sản phẩm dồi dào.

1.2. Ý nghĩa của thời hạn

Trong lĩnh vực pháp lý nói chung và trong lĩnh vực dân sự nói riêng, thời hạn có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác lập, ấn định quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Thật vậy, trong trường hợp pháp luật quy định hoặc các bên tự thỏa thuận với nhau thì thời hạn đóng vai trò như một sự kiện pháp lý đặc biệt và có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự.

Xem thêm: Thời hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sửa chữa chai LPG

1.3. Phân loại thời hạn

* Căn cứ vào thứ tự xác lập thì thời hạn sẽ được phân thành ba nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất: thời hạn do pháp luật quy định: đây là thời hạn pháp luật ấn định và quy định là thời hạn bắt buộc đối với tất cả các chủ thể tham gia giao dịch dân sự, các chủ thể buộc phải tuân theo và không được phép thay đổi thời hạn này. Ví dụ về thời hạn luật định: thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.

Nhóm thứ hai: thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ấn định: đây là thời hạn mà khi người dân tiếp xúc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm việc thì cơ quan nhà nước đó sẽ ấn định một thời hạn cụ thể cho người dân để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn đó. Ví dụ như: thời hạn nhận hồ sơ, thời hạn trả hồ sơ,…

Nhóm thứ ba: thời hạn do các chủ thể tự thỏa thuận, xác định: đây là thời hạn các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự được tự do, tự thỏa thuận, xác định với nhau để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Ví dụ như: thời hạn thực hiện hợp đồng gửi giữ tài sản,…

* Căn cứ vào tính xác định thì thời hạn sẽ được phân thành hai nhóm như sau:

Nhóm thứ nhất: thời hạn xác định: đây là thời hạn được xác định cụ thể, chính xác thời điểm bắt đầu và kết thúc và được quy định rất rõ ràng.

Nhóm thứ hai: thời hạn không xác định: là thời hạn chỉ quy định một cách chung chung, tương đối, không cụ thể khoảng thời gian và khoảng thời gian không được xác định chính xác. Ví dụ như: “khoảng thời gian kịp thời”; “khoảng thời gian hợp lý”; “khi có yêu cầu”;…

1.4. Cách tính thời hạn

Cách tính thời hạn được quy định cụ thể, chi tiết tại các Điều 146 đến Điều 148 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, Điều 145 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định cách tính thời hạn sẽ được áp dụng theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Cũng theo khoản 2 Điều 145 thì nếu như các bên không thỏa thuận thì thời hạn được tính theo dương lịch.

Tuy nhiên, một cách khái quát nhất thì thời hạn sẽ được tính như sau:

Trước hết, trong trường hợp các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự không có thỏa thuận với nhau về thời điểm kết thúc thời hạn thì khi chủ thể có quyền tiến hành yêu cầu hoặc chủ thể có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thì thời hạn sẽ kết thúc.

Còn đối với trường hợp các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự thỏa thuận về thời điểm kết thúc thời hạn là: đầu tháng, giữa tháng, cuối tháng; đầu năm, giữa năm, cuối năm thì ngày hết thời hạn tương ứng là ngày mồng 1, ngày 15 và ngày cuối cùng của tháng đó. Và nếu như những ngày trên rơi vào ngày lễ, tết, ngày nghỉ hoặc ngày chủ nhật thì thời hạn sẽ được xác định theo nguyên tắc chung: ngày hết thời hạn là ngày làm việc kế tiếp ngày nghỉ đó.

2. Thời hiệu là gì?

 

Thời hiệu là gì?

Thời hiệu là gì?

2.1. Khái niệm thời hiệu

Theo khoản 1 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định. Như vậy, có thể thấy rằng thời hiệu là thời hạn do pháp luật quy định cho nên các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự không được phép thỏa thuận để thay đổi, kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn này được.

Thời hiệu sẽ được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và luật khác có liên quan.

2.2. Ý nghĩa của thời hiệu

Thời hiệu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể khi có những hành vi xâm phạm đến các lợi ích của họ. Bởi nếu một người bị chủ thể khác xâm phạm tài sản mà khởi kiện vụ việc ra Tòa án thì họ phải chứng minh hình dạng của tài sản, phân loại tài sản, nguồn gốc của tài sản,…Nhưng tài sản nếu để lâu trong một thời gian dài thì có thể dẫn đến bị hỏng hóc về tính năng, tác dụng và thậm chí có thể bị biến mất và không còn tồn tại. Vậy nên nếu để thời gian càng lâu thì có thể sẽ khiến cho việc chứng minh tài sản của người khởi kiện gặp nhiều khó khăn và thậm chí là có trường hợp người khởi kiện không thể chứng minh được tài sản của mình. Chính vì vậy mà pháp luật đã đặt ra quy định về một thời hạn nhất định gọi là thời hiệu cho việc phát sinh, tồn tại, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Có thể thấy rằng thời hiệu, một thời hạn được pháp luật quy định chặt chẽ và hợp lý sẽ giúp cho mọi sự việc hay mọi vụ án đều có căn cứ thích hợp để được giải quyết một cách đúng đắn nhất và hiệu quả nhất.

Ngoài ra, đối với các quan hệ pháp luật dân sự, thời hiệu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc ổn định những quan hệ đó. Thật vậy, nếu như pháp luật không có quy định về thời hiệu thì các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự sẽ rất dễ dàng bị đe dọa, bị ảnh hưởng đến quyền lợi và chất lượng cuộc sống của mình mỗi khi có tranh chấp xảy ra. Đồng thời, nếu để thời gian lâu, kéo dài mà không có biện pháp xử lý kịp thời thì sẽ khiến cho quá trình chứng minh các căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật dân sự trở nên khó khăn, phức tạp. Hơn nữa, Tòa án, với tư cách là chủ thể có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự sẽ phải thực hiện rất nhiều bước và thủ tục quan trọng như: tiến hành điều tra vụ việc, thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ,… để xác định sự thật khách quan. Tuy nhiên, nếu thời gian đã trôi qua một khoảng quá dài thì có thể dẫn đến hậu quả là việc tiến hành thu thập, đánh giá chứng cứ đó của Tòa án có thể sẽ không chính xác.

Bên cạnh đó, việc pháp luật quy định thời hiệu cũng có ý nghĩa giúp cho các tổ chức buộc phải luôn kiểm soát và có trách nhiệm trong suốt quá trình hoạt động cũng như quá trình sản xuất, kinh doanh của tổ chức mình đồng thời luôn có ý thức bảo đảm, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể và Nhà nước.

Xem thêm: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu theo quy định

2.3. Phân loại thời hiệu

Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định có ba loại thời hiệu sau đây:

* Thời hiệu hưởng quyền dân sự (khoản 1 Điều 150): đây là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự. Có thể thấy rằng thời hiệu ở đây sẽ làm phát sinh quyền dân sự cho chủ thể, tuy nhiên, không phải mọi quyền dân sự cũng đều được xác lập theo thời hiệu, mà pháp luật có quy định một số quyền dân sự. Ví dụ như: pháp luật quy định thời hiệu hưởng quyền sở hữu đối với vật vô chủ, gia súc, gia cầm bị thất lạc,…

* Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự (khoản 2 Điều 150): đây là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ. Có thể thấy rằng, khi một chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và có nghĩa vụ phát sinh, phải thực hiện trong quan hệ đó (nghĩa vụ độc lập với trái vụ) thì trong thời hạn pháp luật quy định, họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Nếu thời hiệu thực hiện nghĩa vụ hết thì chủ thể đó cũng chấm dứt việc thực hiện nghĩa vụ.

* Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự (khoản 3, khoản 4 Điều 150):

Trước hết, theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì chủ thể sẽ bị mất quyền khởi kiện.

Còn theo khoản 4 Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì chủ thể sẽ bị mất quyền yêu cầu.

Có thể thấy rằng trong quan hệ pháp luật dân sự, chủ thể có nghĩa vụ phải tự nguyện thực hiện nghĩa vụ đối với chủ thể có quyền. Chủ thể có quyền có thể yêu cầu Tòa án buộc chủ thể có nghĩa vụ phải tuân thủ, thực hiện đúng các nghĩa vụ của họ bằng các biện pháp cưỡng chế phù hợp theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tiếp đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định về thời hiệu khởi kiện chung đối với các quan hệ pháp luật dân sự mà thay vào đó Bộ luật này xác định các nguyên tắc chung nhất về thời hiệu khởi kiện. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện cho từng trường hợp cụ thể, riêng biệt, ví dụ như: thời hiệu khởi kiện yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm (khoản 1 Điều 132); thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 588); thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (Điều 623); ngoài ra còn có các trường hợp thời hiệu khởi kiện không bị hạn chế (khoản 3 Điều 132).

2.4. Cách tính thời hiệu

 

Cách tính thời hiệu

Cách tính thời hiệu

Theo Điều 151 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Như vậy, thời hiệu được xác định bằng đơn vị “ngày” và ngày thứ nhất của thời hiệu là ngày sau khi xảy ra sự kiện pháp lý làm thời hiệu phát sinh.

* Đối với thời hiệu hưởng quyền dân sự và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự: theo nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 153 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu hưởng quyền dân sự và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự sẽ có tính liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc; nếu có sự kiện làm gián đoạn các thời hiệu này thì thời hiệu phải được tính lại từ đầu, sau khi sự kiện làm gián đoạn đó chấm dứt. Dựa trên tính ràng buộc, bắt buộc của pháp luật đối với thời hiệu tại Điều 152 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi pháp luật quy định cho các chủ thể được hưởng quyền dân sự hoặc được miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu thì chỉ sau khi thời hiệu đó kết thúc, việc hưởng quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ dân sự của chủ thể mới có hiệu lực.

* Đối với thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự: theo khoản 1 Điều 154 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự sẽ được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm là thời điểm mà người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng họ đã không làm điều đó. Ví dụ: anh A và ông C thỏa thuận với nhau về thời điểm ông C phải trả nợ trong hợp đồng vay nhưng khi đến đúng thời điểm hẹn trả thì ông C không trả tiền nợ cho anh A, như vậy, kể từ thời điểm này anh A là bên cho vay có quyền khởi kiện trước Tòa án yêu cầu bên vay là ông C phải trả nợ cho mình.

Tiếp đó, nếu như các bên chủ thể không quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì pháp luật sẽ có những quy định riêng tương ứng với tính chất của từng quan hệ pháp luật như: “khi có yêu cầu”; “bất cứ lúc nào”; “khoảng thời gian hợp lý”; “ngay lập tức”;… Và chỉ sau khi thời hạn đó kết thúc thì mới coi là thời điểm vi phạm và thời hiệu bắt đầu được tính. Ngoài ra, trong một số trường hợp, thời điểm vi phạm sẽ là thời điểm xác lập quan hệ (ví dụ: tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu) hoặc thời điểm vi phạm là thời điểm xảy ra sự kiện nào đó (ví dụ: thời điểm mở thừa kế),…

* Đối với thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự: theo khoản 2 Điều 154 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Còn về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự đã được quy định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015. Có thể thấy rằng thời hiệu khởi kiện có thể bị gián đoạn khi những sự kiện nhất định được pháp luật dữ liệu xảy đến. Khi những sự kiện này xảy ra thì thời hiệu sẽ tạm dừng và khoảng thời gian diễn ra các sự kiện này sẽ không được tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự. Các khoảng thời gian không được tính vào những thời hiệu đó là:

Thứ nhất: có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu không thể khởi kiện và không thể yêu cầu trong phạm vi thời hiệu (khoản 1 Điều 156). Ở đây, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước đồng thời không thể khắc phục được mặc dù đã sử dụng, áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép. Ví dụ: bị tai nạn, thiên tai,… Còn trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho chủ thể có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ dân sự của mình.Ví dụ: đi công chuyện đột xuất; thư từ bị gửi sai địa chỉ, thất lạc,…

Thứ hai: người có quyền khởi kiện là người chưa thành niên, đang bị mất năng lực hành vi dân sự, đang bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đang có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa có người đại diện (khoản 2, khoản 3 Điều 156). Những chủ thể này không có khả năng và không thể tự mình yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được, cho nên pháp luật đã quy định tạm ngừng thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự trong trường hợp này.

Có thể thấy rằng khác với việc tạm ngừng thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 156 mà trong đó, khoảng thời gian xảy ra trước khi có sự kiện tạm ngừng vẫn được tính vào thời hiệu chung, thì việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 157 là việc pháp luật dự liệu những sự kiện nếu xảy ra thì thời hiệu khởi kiện sẽ được tính lại từ đầu. Các trường hợp thời hiệu khởi kiện tính lại từ đầu là:

Thứ nhất, bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện.

Thứ hai, bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện.

Thứ ba, các bên đã tự hòa giải với nhau.

Như vậy, khi xảy ra một trong các trường hợp nêu trên thì thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại kể từ ngày tiếp sau ngày xảy ra sự kiện.

3. So sánh thời hạn và thời hiệu

Bên cạnh những tiêu chí chính đã phân tích ở trên, có thể so sánh ngắn gọn thời hạn và thời hiệu qua bảng sau đây:

 

Tiêu chí

Thời hạn

Thời hiệu

Về khái niệm

Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác

(Theo khoản 1 Điều 144 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định

(Theo khoản 1 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Về đơn vị tính

Thời hạn được xác định bằng các đơn vị như: phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện nào đó có thể xảy ra.

Thời hiệu được xác định bằng đơn vị: năm

Về việc phân loại

Dựa vào 2 căn cứ để phân chia:

* Căn cứ vào thứ tự xác lập chia thành 03 loại:

Thời hạn do luật định;

Thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ấn định;

Thời hạn thỏa thuận theo ý chí của các chủ thể.

* Căn cứ vào tính xác định chia thành 02 loại:

Thời hạn xác định;

Thời hạn không xác định.

Thời hiệu được chia thành 03 loại:

Thời hiệu hưởng quyền dân sự;

Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự;

Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Về thời điểm bắt đầu

Đối với thời hạn thì ngày băt đầu của thời hạn sẽ không được tính vào thời hạn.

Đối với thời hiệu thì thời hiệu sẽ được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu.

Về thời điểm kết thúc

Nếu thời hạn tính bằng ngày -> thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối của thời hạn.

Nếu thời hạn tính bằng tuần -> thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng trong tuần cuối của thời hạn.

Nếu thời hạn tính bằng tháng -> thời hạn kết thúc tại ngày tương ứng trong tháng cuối của thời hạn. Tháng kết thúc mà không có ngày tương ứng -> thời hạn hết vào ngày cuối của tháng đó.

Nếu thời hạn tính bằng năm -> thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm hết thời hạn.

Trường hợp ngày cuối của thời hạn là ngày nghỉ, ngày lễ -> thời hạn hết vào lúc hết ngày làm việc kế tiếp ngày nghỉ, ngày lễ.

24 giờ là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn.

Đối với thời hiệu thì thời hiệu sẽ hết, chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu đã định.

Việc gia hạn

Thời hạn đã hết thì các chủ thể có thể thỏa thuận để gia hạn thêm hoặc kéo dài thời hạn ra.

Đối với thời hiệu pháp luật đã quy định thì không được gia hạn.

Chủ thể áp dụng bao gồm

Các chủ thể áp dụng thời hạn là

Thứ nhất: các Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai: các cá nhân và tổ chức

Các chủ thể áp dụng thời hiệu là:

Các cơ quan nhà nước đặc biệt là Tòa án nhân dân, các cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân.

Về các trường hợp áp dụng

Thời hạn sẽ được áp dụng đối với:

Thứ nhất: giao dịch dân sự giữa các cá nhân và các tổ chức.

Thứ hai: các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để giải quyết vụ việc khác nhau.

Thời hiệu sẽ được áp dụng khi:

Các cơ quan nhà nước sử dụng để giải quyết các yêu cầu của người dân, tranh chấp giữa các chủ thể theo quy định.

Về hậu quả pháp lý

Đối với thời hạn thì hậu quả pháp lý khi thời hạn kết thúc là chủ thể tham gia giao dịch dân sự sẽ phải chịu hậu quả nào đó.

Đối với thời hiệu thì hậu quả pháp lý khi thời hiệu kết thúc là các chủ thể sẽ chỉ phải gánh chịu hậu quả pháp lý theo điều kiện do luật định.

Về cơ sở pháp lý

Thời hạn được quy định từ Điều 144 đến Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Thời hiệu được quy định từ Điều 149 đến Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015.

 

Bài viết trên đây đã làm rõ khái niệm thời hạn là gì, thời hiệu là gì, đồng thời so sánh thời hạn và thời hiệu thông qua các tiêu chí như phân loại, cách tính, cách xác định,... Bạn đọc còn có thắc mắc gì liên quan đến vấn đề này hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được giải đáp nhanh chóng:


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác