Phân biệt sự vi phạm quyền riêng tư và hậu quả pháp lý


Phân biệt sự vi phạm quyền riêng tư và hậu quả pháp lý
Gần đây, thông tin xoay quanh việc ca sĩ Jack sử dụng hình ảnh của cầu thủ bóng đá nổi tiếng Lionel Messi vào MV ca nhạc “Từ nơi tôi sinh ra” đã rấy lên không biết bao ý kiến trái chiều về việc ca sĩ Jack có được phép sử dụng hình ảnh khi chưa được sự đồng ý có trái pháp luật hay không? Bởi hình ảnh cá nhân cũng được xem là sự riêng tư của mỗi cá nhân. Vậy như thế nào là quyền riêng tư, vi phạm quyền riêng tư và pháp luật vi phạm quyền riêng tư quy định như thế nào? Trong bài viết hôm nay, công ty Luật Ánh Ngọc xin đưa ra một số quy định của pháp luật về vi phạm quyền riêng tư và hậu quả pháp lý của nó.

1. Quyền riêng tư theo quy định của pháp luật

1.1. Quyền riêng tư là gì?

Sự riêng tư hay các thông tin riêng tư là tổng hợp của nhiều yếu tố, đặc điểm, tính chất gắn với nhân thân con người, tạo nên nét đặc trưng, mang dấu ấn, đặc điểm của từng cá nhân trong quá trình sống, trải nghiệm xã hội như dữ liệu cá nhân (hình ảnh cá nhân, số điện thoại, tình trạng hôn nhân,…), đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Đây là những thông tin quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi người mà việc tiết lộ các thông tin này có thể gây bất lợi hoặc những hiểu lầm không đáng có hoặc thiệt hại cho chính cá nhân đó hoặc người khác.

Quyền riêng tư là một trong những quyền cơ bản của công dân, theo đó, mọi công dân có quyền sở hữu, nắm giữ, định đoạt các thông tin riêng tư của mình, cho phép người khác được sử dụng nó và được Nhà nước bảo vệ các thông tin đó. Điều này tạo cho mỗi cá nhân có những không gian được là chính mình, không bị phân biệt, kì thị hay bị phán xét từ người người khác và giúp họ kiểm soát được việc cho phép người khác nắm bắt được các thông tin về mình.

 1.2. Sự vi phạm quyền riêng tư được hiểu như thế nào?

Theo quy định tại Điều 38 Bộ luật dân sự, quyền riêng tư là bất khả xâm phạm và luôn được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi thu thập, sử dụng, công khai các thông tin trên phải được sự đồng ý, cho phép của chính người đó. Do đó, có thể hiểu vi phạm quyền riêng tư là hành vi tiết lộ, phát tán, sử dụng,… các thông tin riêng tư của cá nhân, xâm phạm chỗ ở, thông tin bí mật liên quan đến thư tín, điện thoại…..khi không được chính chủ cho phép trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Một hành vi được xem là xâm phạm quyền riêng tư khi nó đầy đủ các yếu tố sau:

  • Có hành vi trái pháp luật (Ví dụ: chụp tin nhắn của người khác đăng lên mạng xã hội khi chưa được phép, đọc trộm tin nhắn của người khác,,..)
  • Có thiệt hại về lợi ích tinh thần, vật chất (Danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm phạm, thu nhập của người đó bị mất hoặc giảm sút, tinh thẩn bị ảnh hưởng nặng nề…)
  • Có quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm quyền riêng tư và thiệt hại về vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại. ( Hành vi vi phạm quyền riêng tư phải trực tiếp và là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại)

Người có hành vi vi phạm quyền riêng tư phải có lỗi (cố ý hoặc vô ý), tức là họ biết việc sử dụng hình ảnh, thông tin của cá nhân bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Xem thêm bài viết: Sự khác biệt giữa lỗi cố ý và lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự

2. Phân biệt vi phạm quyền riêng tư với các vi phạm quyền khác

 

Phân biệt vi phạm quyền riêng tư với các vi phạm quyền khác
Phân biệt vi phạm quyền riêng tư với các vi phạm quyền khác

Chúng ta cần phân biệt vi phạm quyền riêng tư với vi phạm quyền bí mật đời tư. Quyền bí mật đời tư cũng liên quan đến cá nhân, nhưng xét về tính riêng tư, đây là những thông tin bí mật, người đó không muốn tiết lộ ra ngoài. Trong khi đó, quyền riêng tư có phạm vi rộng hơn, bao hàm cả quyền bí mật đời tư. Do đó, vi phạm quyền riêng tư bao gồm vi phạm quyền bí mật đời tư và các thông tin cá nhân được công khai. 

Không phải trường hợp nào việc thu thập, công khai thông tin của các cá nhân khi chưa được sự đồng ý đều được tính là vi phạm. Có thể kể đến các trường hợp sau:

  • Sử dụng hình ảnh mà không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người địa diện theo pháp luật của  họ trong trường hợp: sử dụng hình ảnh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng; sử dụng trong các hoạt động hội nghị, hội thảo, các cuộc thi đấu thể dục thể thao, trình diễn nghệ thuật…. mà không tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó (Khoản 2 Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015).
  • Thu thập các thông tin riêng tư nhằm mục đích bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia như quy định phải kê khai tài sản đối với các cán bộ, công chức, sĩ quan quân đội,.. người giữ chức vụ từ phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, người ứng cử đại biểu Quốc hội,… (Điều 34 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2018)
  • Trường hợp việc sử dụng thông tin nhằm mục đích điều tra, bảo vệ an ninh hoặc phát hiện tội phạm như cơ quan công an có quyền được xem xét, kiểm tra điện thoại nếu có căn cứ cho rằng trong đó chứa đựng chứng cứ.

Xem thêm các bài viết khác: 

3. Hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm quyền riêng tư

Bởi vì quyền riêng tư là quyền cơ bản của mỗi người, bất kì hành vi nào xâm phạm đến quyền riêng tư đều là hành vi vi phạm pháp luật. Người có hành vi vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự như xin lỗi, cải chính, bồi thường thiệt hại hoặc nếu mức độ nghiêm trọng, người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy vào từng mức độ thiệt hại mà người vi phạm có thể bị xử phạt bởi các hình thức khác nhau.

Hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm quyền riêng tư
Hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm quyền riêng tư

3.1. Phạt tiền

  • Phạt tiền tối thiểu 3.000.000 đồng đến tối đa 40.000.000 đồng trong đối với trường hợp sử dụng hình ảnh khi không được phép:
    • Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hình ảnh của trẻ em dưới 07 tuổi để minh họa trên các xuất bản bị phạt tiên (điểm c khoản 2 Điều 25 Nghị định 119/2020/NĐ-CP)
    • Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hình ảnh cá nhân dùng để quảng cáo (điểm b khoản 3 Điều 34 Nghị định 38/2021/NĐ-CP).
    • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu dùng hình ảnh người khác trên mạng xã hội mà không xin phép (điểm e khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP)
  •  Phạt tiền từ 5.000.000 đồn đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân có hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong những hành vi: cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy mê tín dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục hoặc cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến các nội dung bị cấm lên các trang mạng...
  •   Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư cá nhân nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu phát tán tài liệu riêng tư thông qua hành vi xâm phạm điện tín, thư tín của người khác để xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người đó (Điều 54 Nghị định 144/2021/NĐ-CP).

Ngoài ra, nếu người bị xâm phạm khởi kiện thì người vi phạm có thể phải bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người bị hại như bồi thường chi phí để hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị giảm sút, khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần,..

Xem thêm bài viết: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là bao lâu theo quy định

3.2. Trách nhiệm hình sự

Ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính như phạt tiền, trong một số trường hợp, người vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm hình sự cụ thể:

  • Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159 Bộ luật Hình sự) nếu người đó thực hiện các hành vi chiếm đoạt, làm hư hỏng, thất lạc, cố lấy thông tin, nội dung thư tín, điện báo,… của người khác hoặc nghe, ghi âm cuộc đàm phán khi không được sự đồng ý và đã bị xử lý kỷ luật hoặc hành chính nhưng vẫn vi phạm. Khung hình phạt cao nhất là 03 năm tù
  • Tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Điều 158 Bộ luật Hình sự) nếu có các hành vi khám xét, chiếm giữ, xâm nhập trái phép hoặc đuổi người khác ra chỗ ở của họ. Hình phạt cao nhất là 05 năm tù, ngoài ra còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
  • Tội làm nhục người khác (Điều 155 Bộ luật Hình sự) nếu có các hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Hình phạt cao nhất là phạt tù giam, tối đa 05 năm.
  • Tội vu khống (Điều 156 Bộ luật Hình sự) nếu có các hành vi bịa đặt, lan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Mức hình phạt cao nhất là 07 năm tù.

Xem thêm các bài viết:

Như vậy, quyền riêng tư là quyền nhân thân cơ bản gắn liền với mỗi cá nhân, yêu cầu mọi người đều phải tôn trọng và được pháp luật bảo vệ dưới mọi hình thức. Tùy vào từng mức độ cụ thể của hành vi, người vi phạm quyền riêng tư có thể bị xử phạt ở các mức độ khác nhau từ phạt tiền đến mức hình phạt nặng nề hơn là bị phạt tù. Trong thời đại ngày nay, khi mỗi cá nhân đều công khai nhiều hơn thông tin của mình trên cách phương tiện thông tin, đặc biệt, gần đây Nghị định số 13/2023/NĐ-CP của Chính phủ về Bảo vệ dữ liệu cá nhân đã có hiệu lực pháp luật, mọi người cần nắm rõ các thông tin cơ bản về dữ liệu cá nhân cũng như quyền riêng tư, quy định của pháp luật về vi phạm quyền riêng tư để có thể bảo vệ tốt nhất sự riêng tư của cá nhân cũng như tránh việc thực hiện các hành vi vi phạm quyền riêng tư. Để biết thêm những thông tin hoặc có những vướng mắc, xin vui lòng liên hệ với Luật Ánh Ngọc để được tư vấn, giải đáp.

 

 


Ý kiến

()
Bình luận
Các bình luận khác